LUÂN HOÁN
Để chuẩn bị di cư qua Montréal Québec Canada, năm 1984, gia đình
tôi rời thành phố Đà Nẵng, vào tạm trú tại nhà người chị cả tôi,
ở số 22 Lê Lợi, quận 1 Sài Gòn. Trong những ngày ngồi không chờ
lên đường, tôi có ba lần tình cờ gặp mặt nhà văn Song Thao.
Lần thứ nhất. Trong đám người xô bồ Hoa, Việt, lóng ngóng tại
cơ quan lo việc xuất cảnh, 1B Duy Tân, không hiểu sao, tôi đặc biệt
chú ý đến một người đàn ông trạc tuổi tôi. Anh gọn gàng tươm tất,
so với cái lè phè của tôi, càng nổi bật vẻ lịch sự, trang nhã của
anh.
Lần thứ hai. Giữa lúc chen chúc trong hành lang của một biệt thự
lộng lẫy, tại góc ngã tư Tú Xương, Trần Quý Cáp, để chờ được phái
đoàn Sở Di Trú Canada phỏng vấn. Tôi chợt bắt gặp lại khuôn mặt
ông chững chạc lần trước. Vẫn trang phục bảnh bao, anh đến cùng
vợ và bốn con. Chúng tôi nhìn nhau, lạnh lùng, không một nụ cười
xã giao. Cái hồi hộp, lo sợ lạ lùng của đám người chờ được phỏng
vấn hôm đó, đã tạo ra một khung cảnh nghiêm trang đặc biệt. Gia
đình nào cũng tỏ vẻ trầm lặng. Có lẽ vì cái không khí này, tôi đã
bỏ ý định gặp anh để tìm thêm một vài kinh nghiệm cần thiết trước
khi vào gặp giới hữu trách. Sau này, tôi được biết, lúc đó anh cũng
có chú ý đến gia đình tôi và chị Song Thao, loáng thoáng nghe giọng
nói của tôi, đã sớm đặt cho tôi một cái tên khá ngộ : " Cái
ông Đà Nẵng ". Chúng tôi ra mắt phái đoàn Canada ở hai phòng
khác nhau, và lặng lẽ ra về.
Lần thứ ba. Nắm được giấy đăng ký chuyến bay trong tay, từ 1 B
Duy Tân, tôi vội vã ra về thì đụng đầu Song Thao ngay cổng vào.
Anh cùng đi với một người đàn ông khác. Họ chặn tôi lại, tỏ ý muốn
xem mặt mũi những mẫu giấy tờ tôi vừa được cấp phát. Tôi nôn nóng
chìa cho Song Thao đọc lướt qua, rồi bỏ đi liền, không chào. Và
anh, hình như cũng quên cảm ơn.
Chuyến bay của gia đình tôi trễ gần một tháng so với ngày đã đăng
ký. Chúng tôi được ăn cái tết Nguyên Đán cuối cùng ở Sài Gòn nhờ
chính phủ Việt Nam đương thời, bốc đồng sửa lại âm lịch. Lang thang
với Hoàng Trọng Bân trong những ngày còn lại, tôi có để ý tìm gặp
người bạn " cùng đi một đường" mấy lần trước, nhưng đáng
tiếc, không gặp.
Cuộc đời ở appartement tại Montréal của gia đình tôi bắt đầu ngày
02 tháng 2 năm 1985. Nhưng mãi đến giữa mùa hè 1986, tôi và Lý mới
tình cờ gặp lại anh chị Song Thao, bên góc ngã tư Sherbrooke, Saint
Laurent. Lần này, bốn chúng tôi không những chào mừng nhau mà còn
thăm hỏi xã giao một đôi điều. Chúng tôi tự giới thiệu quí danh
và trao đổi số điện thoại. Trong tháng ngày thiếu vắng những bạn
vàng, gặp và quen Song Thao, một khuôn mặt mới, nhưng dường như
đã thân từ lâu, tôi rất vui.Tuy không rành tướng thuật, nhưng qua
năm ba phút đối thoại, tôi nhận ra Tạ Trung Sơn, tên thật của Song
Thao, vui tính, bộc trực, cởi mở. Nhớ hôm đó, vợ chồng chúng tôi
đang đứng chờ xe buýt với một chậu cây cảnh khá sum suê. Anh Sơn
đã vui miệng hỏi:
- Ông bà mua cây gì đây?
Tôi ngớ ra vì không biết tên gọi loại cây vừa mua. Qua hai mùa
tuyết lạnh, căn nhà mình cư ngụ dẫu bé nhỏ, vẫn cảm thấy lỏng lẻo.
Nên chúng tôi cũng học đòi, bắt chước thiên hạ tha dần về vài chậu
cây cảnh, cùng hồ cá, lồng chim...để chêm cho căn phòng giàu thêm
sức sống, đỡ phải ngồi ao ước: "...phải chi có con kiến, hay
một hai con ruồi...". Thấy tôi có vẻ bần thần, anh Sơn vui
vẻ mách:
- Cây này là cây Sinh Tiền; cái điệu này ông bà nhất định nhặt
hết bạc cắc của Montréal đây, nhớ dành phần cho tụi này.
Tôi cười như ngầm thỏa thuận. Tiếc thay, chưa đầy một năm sau,
cái cây mang tên Sinh Tiền do anh Sơn gọi, đã bị cái tính ưa đổi
mới của tôi loại bỏ. Lâu rồi, quên hỏi anh Sơn, có loại cây Sinh
tình hay không. Nếu có, mách tôi mua về, xem thử ở vài thập niên
cuối cùng của đời người, mình có thêm một bóng hồng nào nữa hay
không?
Sau lần gặp gỡ đó, chúng tôi có thêm vài lần tình cờ gặp nhau
đôi ba phút tại các siêu thị, vào những ngày cuối tuần. Mối giao
hảo của chúng tôi vẫn ở trong lằn mức xa giao bình thường của những
người cùng một dân tộc xa xứ. Chúng tôi không ai tiết lộ cái nghề
tay trái xưa kia của mình. Mãi đến một buổi tối, tôi nhận được một
cú điện
thoại:
- A lô, cho gặp ông Châu.
- Xin lỗi, tôi đây.
Bên kia đầu dây, tiếng cười đi liền với câu hỏi:
- Ông là Luân Hoán phải không? Tạ Trung Sơn đây.
Im vài giây.
- Sao Ông biết vậy?
- Thì vừa mới đọc Làng Văn. Bà xa tôi đưa tấm ảnh " cái ông
Đà Nẵng" in trên đó ra hỏi, là tôi nhận ra ông ngay.
Tôi vui, nhưng thoáng có chút bối rối. Tính tôi hay mắc cỡ khi
bất chợt có người lạ hoặc chưa quen thân gọi, nhắc đến bút hiệu
của mình.
- Thì buồn cũng viết bậy vậy thôi.
Tôi chưa biết phải nói gì thêm, anh Sơn nói tiếp:
- Này, tôi biết tên ông lâu rồi nghe, từ cái hồi làm Thời Nay.
Tôi bỡ ngỡ :
- Ủa, anh có làm ở Thời Nay?
- Tôi là Song Thao.
- Hả?
Tiếng "hả" của tôi đầy ngạc nhiên và vui vẻ. Song Thao,
một cái tên không xa lạ với tôi. Khởi nghiệp viết báo từ năm 1959,
Song Thao có nhiều bài viết đăng tải cùng lúc với thơ tôi trên nhiều
tạp chí. Anh là cây bút thường xuyên của Thời Nay, Thời Việt, Đời
Nay, Tìm Hiểu. Tôi với anh còn quen tên nhau đậm đà trên tạp chí
Văn Học của Phan Kim Thịnh. Riêng ở bán nguyệt san Thời Nay, anh
giữ nhiều mục, có cả lúc tuyển chọn thơ, nên anh nhắc hỏi đến những
Nguyễn Thị Liên Phượng, Thái Tú Hạp, Hoàng Thị Bích Ni...những bạn
thơ có gốc cội Trung phần như tôi. Sau khi nhận "bà con",
chúng tôi hào hứng hàn huyên. Giao tình bạn hữu giữa chúng tôi bắt
đầu khởi sắc. Cảm ơn anh Hồ Trường An dưới bút hiệu Đào Huy Đán
đã nối cho giao tình này từ những câu phỏng vấn của anh.
Đời sống trên xứ người, so với những năm trước 1975, đối với chúng
tôi, quả có nhiều thua thiệt. Song Thao tâm sự về thời gian vàng
son của anh:
Sau 6 ngày hiệp định Genève được ký kết, Song Thao theo thân phụ,
một cựu viên chức của ngành không quân Pháp vào tới thành phố Sài
Gòn ngày 26 tháng 7 năm 1954. Chiều dài con đường học vấn của Song
Thao thật bằng phẳng. Từ Dũng Lạc Hà Nội, qua Chu Văn An để rồi
tốt nghiệp Đại học Văn Khoa Sài Gòn năm 1964. Trong thời kỳ sinh
viên, anh đã có thể tự giải quyết về những chi phí của mình bằng
cách cộng tác với các tờ báo, kể cả nhật báo Sống của nhà văn Chu
Tử và dạy giờ tại trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu. Tốt nghiệp xong,
Song Thao trở thành chuyên viên nghiên cứu của Bộ Xã Hội. Ngoài
hai lần được tu nghiệp ở Hoa Kỳ, 1967; Phi Luật Tân 1973; anh còn
có duyên thăm viếng các quốc gia Nhật Bản, Đại Hàn, Hồng Kông. Với
một vốn liếng kiến thức như vậy, vẫn chưa đủ để trở thành một công
dân bình thường của nước Cộng Hòa Xa Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nên
sau 1975, Song Thao được tiếp tục vào đại học cải tạo tư tưởng ở
Long Thành. Cuối năm 1976, anh "tốt nghiệp", có quyền
về mở quán cà phê ở Phú Nhuận. Song song với nghề bán cà phê, Song
Thao còn chịu khó học nghề sửa radio, tivi và tập tành vào nghề
xây cất. Rất may, kể từ năm 1978 đến năm 1983 anh được trở lại bục
giảng của trường cấp ba Thanh Đa trong bộ môn Anh Văn. Song Thao
nộp đơn xin đoàn tụ gia đình tại trụ sở Nguyễn Du cuối năm 1983
và đến Montréal Canada ngày 5 tháng 6 năm 1985. Những năm đầu ở
xứ người, anh dự thi và được chọn làm biên tập viên đài tiếng nói
Hoa Kỳ. Nhưng cái duyên mới bén ở đất nước Canada chưa cho phép,
anh đành ở lại xứ này sinh sống với một nghề khiêm nhường hơn. Không
hiểu với nghề nghiệp mới đã tiêu phí của anh bao nhiêu thời gian,
công sức mà những năm đầu dựng nghiệp, anh có vẻ rất lười cầm bút.
Lợi dụng tình thân hữu đang tốt đẹp, tôi hết lòng rủ rê anh trở
lại cuộc chơi. Trong một tập thơ viết về nhiều khuôn mặt bạn bè,
tôi đã tặng Song Thao 4 câu :