Cứ gì mình
Thơ xuân
Một mùa hè Montréal

Thế hệ X
Trà dư tửu hậu
Chuyện tầm phào
Chớm thu
Sống và chết
Chuyện chó
Ta đã làm chi đời ta
Bên ngoài sân cỏ
Cho
Đồng
Hanoi
Lồng
Mới
Tiếc
Trăm
Trầu
Nhớ
Oan
Giấy vệ sinh
Từ chuyện Cô vi
Lại chuyện Cô vi
Sẹo BCG
Tonton Mỹ
Tuyến đầu
Cám ơn
Mũ áo xênh xang
Anh thư
Cắt tóc mùa dịch
Xi-nê ngoài trời
Nóng
Hứa
Câu
Bum
West Point
Cà Cuống
Chân dài
Harris ở Montréal
Karaoke
Các bà Phần Lan
Cabane à sucre
Xe lửa
Ông địa
Rượu đế
Tháng tư nghĩ về sách Sàigòn cũ
Tình Nguyện Viên
Phở Dậu
Tôm hùm
Dầu gió
Đô la đỏ
Lương khô
Đi gặp Nguyễn Trãi
Tiến sĩ giấy
Vịt
Cứ tưởng bở
Cu Tin
Mày - Tao
Răng khểnh
Bên lề tổ tôm
Khai bút
Tuyết ơi là tuyết
Nhạc chế
Ve sầu
Việt Nam tại Paris 2024
Chuồn chuồn
Đom đóm
Bươm bướm
Nhạc Nhái
Ghé bến Montréal
Di động
Chuyện tình trên xe Greyhound
Bọ ngựa
Nem chua
Khi Giáo Hoàng phiếm
Trộm sách
Hockey
Các cụ tán gái
Đài VOA và tôi
Bà xã
Bộ đồ lòng
20 năm viết Phiếm
Sao Michelin
Tiếng lóng Sài Gòn
Viết báo
Cuôi ba dùm
Dính như sam
Măng
Pickleball
Tú tài
Áo dài Le Mur
Hùng Lân
Ca từ
Sex
Ngủ riêng, ngủ chung
Lại một Noel nữa
Hair
Chay tịnh

Đũa

ĐŨA

Ông bạn Thiếu Khanh cùng viết với tôi trên báo Thời Nay từ sáu chục năm trước là một bậc thượng thừa về Anh ngữ. Ông vừa hoàn tất  bộ “Từ Điển Phiên Dịch Việt Anh” dày tới 3700 trang. Đây là một công trình dài hơi tôi nghĩ phải mặn mà với chữ nghĩa lắm mới hoàn tất được. Ông rất cẩn thận khi soạn thảo. Ông đưa ra một ví dụ: “vơ đũa cả nắm” dịch sao cho người ngoại quốc rành rẽ được. Ông thử vào Google xem anh chàng ba xí ba tú này dịch ra sao. Ông vào 5 lần tất cả và nhận được 5 câu trả lời khác nhau. Lần cuối Google dịch: “Grab a handful of chopsticks at once”. Có thể hiểu theo nghĩa đen nhưng với người ngoại quốc chẳng bao giờ dùng đũa, thiệt khó cho họ nắm được nghĩa đích thực của thành ngữ này. Ông cho biết: “Ngay từ trước Công nguyên, Marcus Tullius Cicero (106 – 43 BC), một nhà hùng biện vĩ đại, một lý thuyết gia dịch thuật nổi tiếng của La Mã có ảnh hưởng đến nhiều thế hệ dịch giả về sau, đã nhận thấy không nên dịch sát nghĩa đen từng từ (word for word), mà phải chuyển ý của câu hay cụm từ từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác (sense for sense). Cho nên, có lẽ ở đây cách thích hợp nhất là ta phải tìm trong tiếng Anh những thành ngữ hay các expressions, tuy không nói gì đến Đũa nhưng có nghĩa gần với nghĩa gốc của câu thành ngữ tiếng Việt. Tôi tìm thấy vài idioms hay expressions như thế, và chúng được đặt vào các bối cảnh thích hợp để có những ví dụ dưới đây. Và mục từ này, kể cả phần Ghi Chú ở dưới, là một trang trong Từ Điển Phiên Dịch Việt Anh”. Phần ghi chú là một số thành ngữ tiếng Anh tương tự “vơ đũa cả nắm” trong nhiều ngữ cảnh khác nhau.

Nêu ra thí dụ trên để biết anh Thiếu Khanh làm việc cẩn tắc như thế nào. Phần tôi, tôi nắm được bó đũa! Đũa là thứ chúng ta dùng hàng ngày nên chẳng thèm chú ý tới. Anh Thiếu Khanh không hời hợt như vậy. Nhân dịch câu thành ngữ “vơ đũa cả nắm”, anh đi tới tận cùng để cho chúng ta biết về đầu đuôi của đũa. Nhân loại có ba nhóm về cách ăn uống: nhóm ăn bằng tay, nhóm ăn bằng dao nĩa và nhóm ăn bằng đũa. Nhóm ăn bằng đũa gồm: Việt Nam, Trung Quốc, Nhật và Hàn. Trong bốn dân tộc này, dân tộc nào là thủy tổ của đũa. Theo một truyền thuyết dai dẳng được phổ biến, có lẽ do anh to đất to miệng Trung Quốc truyền ra, thì “Khương Tử Nha là người Tầu đầu tiên nhờ thần linh chỉ dậy cách làm đũa tre, rồi Đắc Kỷ, vợ của Trụ Vương, sáng tạo ra đũa gỗ”. Nhà văn Bình Nguyên Lộc, trong cuốn “Nguồn Gốc Mã Lai của Dân Tộc Việt Nam” phản bác lại: Người Tầu từ nguyên thủy vốn là dân du mục, trồng lúa mì là loại cây không cần nhiều nước vì họ không định cư nên không phát triển ruộng nước được. Sản phẩm của lúa mì là bánh mì và bánh bao. Ăn bánh mì và bánh bao chỉ cầm tay là ăn được, đâu có cần dùng đũa! Vậy đũa là sản phẩm của người Việt, những người định cư, làm ruộng nước, trồng lúa nước, đi biển đánh cá, ăn cơm với các món chế biến từ cá mới phải dùng đũa. Thế hai dân tộc dùng đũa khác là Nhật và Hàn có thể là tổ sư của đũa không? Không phải vì họ dùng đũa là do ảnh hưởng văn hóa từ Trung Quốc.

Lịch sử Trung Quốc bắt đầu vào khoảng 5 ngàn năm trước từ khi dân Trung Quốc chấm dứt cuộc sống du mục để định cư, lập nên nhà Thương từ năm 1766 trước Công nguyên. Thực ra trước nhà Thương có nhà Hạ nhưng thời kỳ nhà Hạ là thời chuyển tiếp giữa đời sống du mục tiến đến định cư, nặng tính truyền thuyết nên không được giới sử học chấp nhận. Họ tự coi là người Hoa Hạ. Phần đất mà người Hoa Hạ tới định cư trước đó đã có người cư trú. Đó là nhiều tộc người Việt được gọi chung là Bách Việt. Người Bách Việt đã phát triển nông nghiệp, trồng lúa từ rất sớm trên mảnh đất này. Hai tộc người Hoa Hạ và người Bách Việt chung sống xen kẽ với nhau và, với thời gian, người Hoa Hạ đã đồng hóa người Bách Việt. Duy có tộc Lạc Việt lui dần về phía Nam, định cư trong vùng châu thổ sông Hồng, không bị đồng hóa.

Cho tới thời nhà Chu, thành lập khoảng thế kỷ 11 trước Công nguyên, dân Tầu vẫn trồng lúa mì làm cây lương thực chính. Dần dà họ mới học dân Bách Việt trồng lúa nước. Khương Tử Nha sanh vào đầu thời kỳ nhà Chu, không phát minh ra cách dùng đũa mà được thần linh dậy làm đũa tre. Thần linh đó phải chăng là người Việt đã dạy cho người Tầu làm và dùng đũa tre từ khi họ trồng lúa nước và ăn cơm.

Đũa là thứ  “Lạc Việt” chính cống. Theo Giáo sư Sử học Trần Quốc Vượng đũa là sản phẩm của nền văn minh gốc nông nghiệp lúa nước. Biện minh cho điều này có thể là cách dùng đũa để gắp thức ăn mô phỏng cách mà loài chim dùng mỏ dài mổ hạt và gắp thức ăn. Loài chim mỏ dài này có thể thấy trên các trống đồng được phát hiện tại địa bàn Việt Nam. Đây là loài chim nước có cấu tạo mỏ khác với loài chim ăn thịt như chim ưng, kền kền.

Dân ta dính với đũa tre khá đậm. Chúng ta đều thuộc những  chuyện “Trầu Cau” hay “Cây Tre Trăm Đốt” từ ngày còn ê a trên ghế trường Tiểu Học. Trong chuyện Trầu Cau có một chi tiết ít ai chú ý. Hai anh em cách nhau một tuổi nhưng giống hệt nhau, người ngoài không cách chi phân biệt nổi. Cô gái muốn lấy người anh nhưng không biết ai là anh ai là em nên dùng một mẹo nhỏ. Cô dọn ra hai chén cơm nhưng chỉ có một đôi đũa. Hai người ngồi vào ăn, thấy một người nhường đôi đũa, cô biết đó là người em. Vì trong cách xử thế hàng ngày, người dưới phải nhường cho người lớn hơn. Tương truyền chuyện này xuất hiện từ thời Hùng Vương, xưa hơn thời nhà Chu, khi người Hạ chung sống với dân Bách Việt.

Chuyện “Cây Tre Trăm Đốt” cũng có dính tới đũa. Ông bá hộ hứa gả con gái cho anh tá điền chăm chỉ làm việc. Nhưng đó chỉ là cách hứa suông để lợi dụng sức làm việc của anh tá điền. Ông gả con gái cho con một anh nhà giầu khác. Ngày cưới cỗ bàn dọn ra đầy đủ, chỉ thiếu đũa. Ông gọi anh tá điền, chỉ vào bàn tiệc nói đó là tiệc cưới của anh và con gái ông. Ông muốn anh lên rừng chặt một cây tre trăm đốt về chẻ ra làm đũa. Anh tá điền cả tin vào rừng kiếm mỏi mắt không có cây tre nào dài tới trăm đốt. Anh bèn ngồi khóc. Một ông lão râu tóc bạc phơ hiện ra hỏi sự tình. Anh kể lại đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong, ông lão nói: “Con đi chặt đủ trăm đốt tre mang về đây ta bảo”. Khi có đủ trăm đốt tre, ông dạy anh tá điền đọc ba lần: “Khắc nhập! Khắc nhập”. Lập tức một trăm đốt tre dính lại với nhau thành một cây tre đủ trăm đốt. Anh mừng quá định vác về nhưng cây tre dài quá không vác được. Ông lão lại dậy đọc ba lần : “Khắc xuất! Khắc xuất!”. Cây tre rời ra từng khúc. Nguyên văn chuyện tiếp theo: “Nó bèn bó cả lại mà gánh về nhà. Đến nơi thấy hai họ đang ăn uống vui vẻ, sắp đến lúc rước dâu, nó mới hay là ông chủ đã lừa nó đem gả con gái cho người ta rồi. Nó không nói gì, đợi lúc nhà trai đốt pháo cưới, bèn đem một trăm khúc tre xếp dài dưới đất, rồi lẩm bẩm đọc: “Khắc nhập, khắc nhập” cho liền lại thành một cây tre trăm đốt, đoạn gọi ông chủ đến bảo là đã tìm ra được, và đòi gả con gái cho nó. Ông chủ lấy làm lạ cầm cây tre lên xem, nó đọc luôn: “Khắc nhập, khắc nhập”, thì ông ta bị dính liền ngay vào cây tre, không làm sao gỡ ra được. Ông thông gia thấy vậy chạy đến, định gỡ cho, nó lại đọc luôn: “Khắc nhập, khắc nhập”, thì cả ông cũng bị dính theo luôn, không lôi ra được nữa. Hai họ thấy thế không còn ai dám lại gần nó nữa. Còn hai ông kia không còn biết làm thế nào đành van lạy xin nó thả ra cho. Ông chủ hứa gả con gái cho nó, ông thông gia xin về nhà ngay, nó để cho cả hai thề một hồi rồi nó mới đọc: “Khắc xuất, khắc xuất” thì hai ông rời ngay cây tre, và cây tre cũng rời ra trăm khúc. Mọi người đều lấy làm khiếp phục đứa ở, ông chủ vội gả con gái cho nó, và từ đó không còn dám khinh thường nó nữa”.

Đũa phải có đôi. Một chiếc đũa là thứ handicap chẳng làm được chuyện chi, có chăng chỉ dùng để chọc vào con gà luộc coi chín chưa! Đôi đũa được người xưa ví von vào chuyện quan trọng nhất của một đời người: chuyện vợ chồng. Từ đó chúng ta có biết bao nhiêu ca dao tục ngữ nói về vợ chồng. “Vợ chồng như đũa có đôi”. Xin đơn cử một vài câu:

“Đôi ta làm bạn thong dong / Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng / Bởi chưng thầy mẹ nói ngang / Cho nên đũa ngọc mâm vàng xa nhau”.

“Đôi ta như đũa trong kho / Không tề, không tiện, không so, cũng bằng”

“Mẹ tôi tham thúng xôi rền / Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng / Con đã bảo mẹ rằng đừng / Mẹ hấm mẹ hứ mẹ bưng ngay vào / Bây giờ chồng thấp vợ cao / Như đôi đũa lệch so sao cho vừa”.

Đũa Việt Nam là đũa tre. Khúc tre được vót một đầu tròn một đầu vuông tượng trưng cho trời và đất. Thế hệ ông bà chúng tôi còn chặt tre về vót đũa. Tôi vẫn còn được ngồi bên ông nội coi ông vót từng que tre thành chiếc đũa. Vậy nên thấy trên mạng có một tác giả không để tên nhắc về kỷ niệm này, tôi bắt ngay được cái tâm cái tình của người xưa với đôi đũa. “Nhớ những ngày hè về thăm ông nội, tôi vẫn thường ngồi xem ông vót đũa, bàn tay ông nhanh thoăn thoắt thật tài tình. Vừa vót đũa ông vừa kể chuyện ngày xửa ngày xưa mà không hề làm sai một chút. Bây giờ mỗi lần đi siêu thị, mắt hoa lên với hàng chục loại đũa không chỉ từ tre mà còn làm bằng nhựa, bằng i-nốc, bằng gỗ mun, gỗ kim giao, gỗ dừa…, không chỉ đũa Việt Nam mà còn nhập về từ các nước, tất cả đều làm bằng máy, thẳng đều tăm tắp , tôi lại nhớ về những đôi đũa mộc mạc của ông bà năm xưa. Ngày ông mất, bác cả tự tay vót đũa cắm trên bát cơm quả trứng đặt lên quan tài cho ông. Nhớ về ký ức đau buồn ấy, tôi vẫn thấy hiện lên chùm nan tre loăn xoăn của đôi đũa thấp thoáng trước tấm ảnh ông hiền hậu như đang muốn mỉm cười. Đôi đũa gắn bó với con người khi còn sống và cũng theo con người đi về nơi an nghỉ cuối cùng”.

dua-viet-nam-thumb
Đũa tre.

700x500-stacking_chopsticks
Làm đũa tre.

Đũa là một dụng cụ vạn năng. Vừa gắp, xé, và, vừa dầm, trộn, vét được hết trong khi dân Tây phương dùng muỗng nĩa dao lích kích hơn. Mỗi thứ chỉ dùng được một công việc trong khi ăn. Nói theo khoa học, đũa dược vận dụng theo nguyên tắc đòn bẩy một cách thần tình để gắp thức ăn nằm ở xa.

Chỉ dân ta mới dùng đũa tre, các dân tộc khác mỗi nơi thường dùng đũa bằng vật liệu khác nhau. Đũa tiếng Hàn là jeo. Ngày tôi qua Đại Hàn, trên đường đi đều dễ dàng tìm được những quầy bán đũa nhôm giá cao thấp khác nhau. Phải một thời gian mới biết đũa nhôm có loại rỗng loại đặc. Loại đặc cầm thấy nặng hơn và cũng mắc tiền hơn. Ngày xưa, giới quý tộc Hàn quốc không dùng đũa nhôm mà dùng đũa bạc vì đũa bạc có thể giúp họ phát hiện đồ ăn có tẩm thuốc độc hay không. Người nghèo không đủ tiền để dùng đũa bạc nên họ thay vào bằng đũa nhôm để tạo ra cảm giác an toàn tương tự.

Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản đều dùng đũa, thế nhưng bạn có biết câu chuyện về sự khác biệt? ảnh 3
Đũa Hàn quốc.

Qua tới Nhật thì cơ man nào là đũa, tiếng Nhật gọi là hashi. Xanh đỏ tím vàng chi có hết vì đó là đũa gỗ được trang trí bằng sơn mài. Đũa Nhật có đầu nhọn, khác với đũa Việt đầu tròn. Để giải thích về độ tròn hay nhọn của đầu đũa, người ta cho rằng vì gạo tẻ Việt Nam có độ kết dính ít nên khi ăn chúng ta phải và cơm. Gạo nấu cơm của Nhật, độ dính kết nhiều nên khi ăn không và mà xắn từng miếng cho vào miệng.

https://vn.japo.news/contents/wp-content/uploads/2023/07/433.jpg
Đũa Nhật.

Cùng dùng đũa nhưng đũa mỗi nước có độ dài ngắn khác nhau. Đũa Trung Quốc dài nhất dùng để gắp thức ăn từ xa trên bàn tròn xoay. Đũa Việt Nam có độ dài trung bình. Đũa Hàn quốc ngắn hơn đũa Nhật Bản, dài khoảng từ 20 tới 23 phân. Đũa tôi mua bên Hàn quốc và Nhật Bản dùng thấy lọng cọng hơn chắc vì độ ngắn dài cũng như đầu đũa thon và nhọn khác nhau.

Nhưng dù muốn hay không, trong tương lai chắc tôi cũng phải dùng đũa Nhật. Nghe có vẻ thiếu tinh thần dân tộc nhưng sẽ là chuyện bắt buộc. Tuổi càng nặng càng phải kiêng ăn mặn. Thứ kiêng này không phải là chuyện dễ dàng vì cái miệng nào cũng muốn miếng ăn mặn mà hơn. Không phải kiêng mặn mà “mặn mà nhưng kiêng” là điều mà Giáo sư Homei Miyashita của Đại học Meiji vừa tìm ra được. Ông đã sáng chế ra đôi đũa tạo vị mặn bằng cách kích thích điện và một thiết bị đeo trên cổ tay. Thiết bị này sử dụng một dòng điện nhẹ để truyền các ion natri từ thực phẩm qua đũa đến miệng giúp tạo ra cảm giác của vị mặn. Đũa có thể tăng độ mặn của đồ ăn lên gấp rưỡi mà không phải mang thêm chất mặn vào dạ dày.

1
Đũa và muỗng kiêng ăn mặn của Giáo sư Homei Miyashita.

Dụng cụ ăn giảm độ mặn này gồm cả muỗng và đũa. Ngày 20/5/2024 vừa qua, chiếc muỗng đã được ra mắt tại Nhật với giá 19.800 yen, khoảng 124 đô Mỹ. Muỗng muối điện đã giành được giải “Sức Khỏe Kỹ Thuật Số” và “Công Nghệ Tiếp Cận & Tuổi Thọ” tại giải thưởng Sáng Tạo CES 2025 tổ chức tại Las Vegas, Mỹ. Chưa thấy nói chi tới ngày ra mắt của đũa giảm mặn. Theo một bài viết mới đây thì có thể năm tới, đôi đũa tăng vị mặn nhưng không ăn mặn này sẽ ra mắt.

2
Cách dùng đũa kiêng ăn mặn

Hơi muộn với cánh nặng tuổi chúng tôi nhưng còn nhiêu xài nhiêu. Khi đó chắc chẳng lê thân qua Nhật được cũng nhờ thế hệ sau thỉnh về cho một đôi. Trong khi chờ đợi thì phải cố bóp mồm bóp miệng để lũ con cháu khỏi khát nước!

03/2026