|
Một ông bạn già U90 vừa gửi cho tôi bản e-book cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Sơ Đẳng. Mở cuốn sách quen thuộc từ ngày nảo ngày nào nay như vẫn còn sống trong trí nhớ đã bắt đầu cùn, tôi bắt gặp ngay bài đọc đầu tiên mà tới nay tôi còn có thể đọc thuộc lòng:
Xuân đi học coi người hớn hở
Gặp cậu Thu đi ở giữa đàng,
Hỏi rằng: “Sao đã vội vàng,
Trống chưa nghe đánh đến trường làm chi?
Thôi hãy hượm đừng đi anh ạ
Này con khăng tôi đã sẵn rồi.
Cùng nhau ta hãy đánh chơi
Lát rồi ta sẽ tới nơi cũng vừa”.
Thu đáp: “Dẫu giờ còn sớm
Cũng nên đi kẻo chậm thì sao?
Nếu chờ khi đánh trống vào
Dẫu ta rảo bước tài nào kịp cho
Trễ giờ ta phải nên lo”.
Bài đọc: “Đi học phải đúng giờ” này tại sao nay vẫn còn bám víu vào đầu tôi sau 80 năm, tôi không giải thích được. Nhưng trong cuộc sống thường nhật, cho tới tận bây giờ tôi vẫn luôn tôn trọng giờ giấc và rất khó chịu với việc “không ăn đậu không phải người Mễ, không đi trễ không phải người Việt”. Nhấn mạnh vào đức tính đúng giờ bằng cách để bài văn vần vào đầu sách, các tác giả của Quốc Văn Giáo Khoa Thư đã dạy cho học sinh thứ kỷ luật căn bản dẫn đến thành công trong cuộc sống.
Thế hệ tôi hình như ai cũng không thể quên được bộ sách đầu đời được dậy trong những năm đầu tới trường. Giáo sư Trần văn Chi ghi lại : “Những ai trong chúng ta, ở độ tuổi 60 trở về trước, hẳn còn nhớ bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Có thể đã từng đọc qua hoặc đã nghe đâu đó kể, hoặc đọc qua một vài đoạn, vài bài trong đó. Ðã nửa thế kỷ qua đủ để chúng ta quên nó. Và đủ để chúng ta nhớ nó; nhưng dù thế nào nay đọc lại cũng gây cho chúng ta ít nhiều hoài niệm về thời thơ ấu. Thời mà ngày hai buổi cắp sách đến trường, thời ăn chưa no, lo chưa tới của tuổi học trò…Ở xa xứ, tuổi già bóng xế... đọc lại vài câu, vài bài, nhìn lại hình ảnh vẽ trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư... Ôi thấm thía làm sao! Có một người bạn cùng trường Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn năm xưa, điện thoại khoe với tôi rằng anh vừa nhận được bộ Quốc Văn Giáo Khoa Thư do đồng nghiệp từ Canada gởi tặng. Anh kể cho tôi nghe xúc cảm của anh khi đọc lại bộ sách mà anh đã học 50 năm trước. Anh chia xẻ kỷ niệm và cảm xúc ấy với tôi, tôi rất đỗi nghẹn ngào, nhắc lại bộ Quốc Văn Giáo Khoa Thư, dù lúc đó tôi chưa có sách trên tay”.

Cắp sách tới trường, đám học trò có bao giờ tự hỏi: đi học để làm gì. Đi học vì cha mẹ bắt phải đi chứ chẳng ai trong đám trẻ đủ “già” để nghĩ tới chuyện mục đích của sự học. Tôi nhớ lại thuở hoang dại đó, tới giờ là cắp sách tới trường như một thói quen, có khi cảm thấy buồn vì phải giam mình trong lớp học không được nhởn nhơ chơi đùa, có khi cảm thấy vui vì có bạn bè vui chơi cùng, thoát khỏi những ràng buộc mắng mỏ của các bậc trưởng thượng trong gia đình. Sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư dạy cho đám trẻ biết “Đi học để làm gì?”. “Bác hỏi tôi đi học để làm gì. Tôi xin nói bác nghe. Tôi đi học để biết đọc những thư từ người ta gởi cho tôi và viết những thư từ tôi gởi cho người ta. Tôi đi học để biết đọc sách, đọc nhật báo, thấy điều gì hay thì bắt chước. Tôi đi học để biết tính toán, biết mọi sự vật và biết phép vệ sinh mà giữ gìn thân thể cho khỏe mạnh. Nhưng tôi đi học cốt nhất là biết luân lý, để hiểu cách ăn ở thành người con hiếu thảo và người dân lương thiện”.
Năm 1919, dưới thời vua Khải Định đã diễn ra cuộc thi Hội và thi Đình cuối cùng tại nước ta, kết thúc 844 năm khoa cử Hán học tại Việt Nam tính từ khóa thi năm 1075 dưới triều Lý Nhân Tông. Sách Khải Định Chính Yếu viết: “Năm Khải Định thứ 4 (1919), mùa xuân, tháng Giêng, chuẩn lấy khoa thi Hội năm nay làm Ngự Tứ Ân Khoa”. Trần Tế Xương, một người vất vả với thi cử, đã cảm thán:
Nghe nói khoa này sắp đổi thi
Các thầy đồ cổ đỗ mau đi!
Dẫu không bia đá còn bia miệng
Vứt bút lông đi, giắt bút chì!
Vua Khải Định phê như sau: “Đường khoa cử kén chọn nhân tài của nhà nước nay đã bắt đầu thực hiện cải lương (cải cách). Trẫm cảm nghĩ đối với lớp cựu hiền thì đã hết đường tiến mà tân học lại chưa được thuận, hoài bão ôm ấp mãi không gặp thời. Khoa cử gần đây cũng có nhiều thiên tư, có người vì nghèo khó bức bách mà không được tới trường, hoặc có người tới được trường thì lại không trúng ý quan. Lại có trường hợp tài học của quan lại không bằng được sinh viên, từ đó dẫn tới nhiều người suốt ngày ôm hận, mà nhà nước muốn giăng lưới tuyển tài như ngày xưa cũng không được. Nên cần để cho những người hiền bị bỏ sót trong dân cũng hiểu được ý trẫm. Theo như lời trình trong tờ phiến thì tuy chưa hoàn toàn trúng với ý của trẫm, những ý kiến bàn thêm đã nhất trí nên tạm chuẩn ý cho”.
Kỳ thi Nho học cuối cùng này chọn được 7 Tiến Sĩ và 16 Phó Bảng. Tiến sĩ Nguyễn Phong Di, còn có tên là Nguyễn Thái Bạt, 31 tuổi, người tỉnh Thanh Hóa đứng đầu bảng. Theo Phủ Khâm Sứ của Pháp thông báo thì những người trúng tuyển khoa thi này, tuy vẫn được giữ danh hiệu và học vị cũ nhưng sẽ không có giá trị trong việc bổ nhiệm vào quan trường.
Nền giáo dục Hán học tại nước ta đã chấm dứt. Nền giáo dục mới gặp vấn nạn thiếu sách giáo khoa. Học sinh phải dùng tờ Gia Định Báo làm sách tập đọc. Một thời gian sau họ lại mang sách từ Pháp sang nhưng vì không hợp với năng lực của giáo viên và trình độ của học sinh nên kết quả rất hạn chế. Cho đến những năm 80 của thế kỷ XIX, Trương Vĩnh Ký và một số giáo viên người Việt và người Pháp ở cơ quan học chính Nam kỳ đã biên soạn hoặc dịch một số sách giáo khoa tiếng Pháp để dạy trong các trường tiểu học. Những sách này dần dần được bổ sung thêm một số quyển khác và đã thành những sách dạy trong các trường tiểu học lúc đó. Đa số những sách này hoặc do chữ Quốc ngữ mới ở thời kỳ đầu sơ khai, hoặc mô phỏng sách giáo khoa tiểu học Pháp, hoặc trình độ dịch còn non yếu nên câu chữ lủng củng và do đó, cách diễn đạt nội dung có phần hạn chế.
Năm 1924, Nha Học Chính Đông Pháp (Direction Générale de l’Instruction Publique de l’Indochine) quyết định mời bốn học giả có bằng thông ngôn Pháp: Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận biên soạn bộ Quốc Văn Giáo Khoa Thư, Luân Lý Giáo Khoa Thư và Sử Ký Địa Dư Giáo Khoa Thư, gọi chung là Việt Nam Tiểu Học Tùng Thư nhằm tiêu chuẩn hóa việc giảng dậy bậc tiểu học. Bộ sách được hoàn tất vào năm 1926, cách nay đúng 100 năm.

Nhìn một cách tổng quát, bộ sách này có thể coi là kế tục của “tứ thư ngũ kinh” trong việc giáo dục trẻ em. Bộ sách được soạn bằng chữ quốc ngữ, gồm những bài đọc, dưới mỗi bài học là phần giàng nghĩa chữ khó và bài tập. Các bài đọc ngắn gọn nhưng rất đúng với phương pháp, có chất lượng văn học và hiệu quả giáo dục tâm hồn trẻ thơ, định hình nhân cách cho các em nhỏ. Mỗi bài đều có hình vẽ minh họa với nét vẽ chân phương nhưng diễn tả rất sát với nội dung bài đọc khiến các em học sinh dễ tiếp thu.
Theo việc cải cách giáo dục năm 1917, bậc tiểu học gồm 5 lớp: Đồng Ấu, Dự Bị, Sơ Đẳng, lớp nhì và lớp nhất. Tới năm 1925, có thêm lớp nhì đệ nhất nên thành 6 năm, chia làm 2 bậc. Bậc sơ học gồm 3 lớp Đồng Ấu, Dự Bị và Sơ Đẳng. Bậc tiểu học gồm các lớp nhì đệ nhất, nhì đệ nhị và lớp nhất. Bộ sách của các ông Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận dùng cho bậc sơ học.
Việc áp dụng ba bộ sách trong chương trình giáo dục bậc sơ học cho thấy các chủ đề về luân lý, đạo đức, công dân giáo dục được nhấn mạnh trong suốt ba năm học cho các học trò mới cắp sách tới trường cốt tạo cho các em một hành trang vững chắc để tiến lên bậc tiểu học. “Tiên học lễ, hậu học văn” là phương châm giáo dục thời đó.
Một trang sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư.

Bộ sách “Sử Ký Địa Dư Giáo Khoa Thư” giúp các em biết nguồn gốc và diễn tiến lịch sử của nước nhà qua từng thời kỳ. Chương trình lớp Dự Bị bao gồm những chuyện cổ tích, ký sự và chuyện các danh nhân nước ta như chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh, Phù Đồng Thiên Vương hoặc chuyện Lê Lợi đánh quân Nguyên. Qua tới lớp Sơ Đẳng, không còn dậy theo lối kể chuyện lẻ loi mà có lớp lang đàng hoàng. Từ thời cổ đại nói về nguồn gốc dân tộc tới thời Bắc thuộc, thời tự chủ với các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý Trần, Lê, thời Nam Bắc phân tranh, thời thống nhất sơn hà với các triều đại nhà Nguyễn, và cuối cùng là thời Pháp thuộc.
Về địa dư, cuốn sách chủ trương “trước khi học địa dư toàn xứ cần cho trẻ học địa dư tỉnh nó ở và các tỉnh lân cận”. Từ đó mở rộng ra địa dư các xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Cao Miên.
Quốc Văn Giáo Khoa Thư chính thức kết thúc sứ mạng lịch sử vào năm 1948, khi hệ thống giáo dục thời Pháp thuộc cáo chung. Tuy nhiên cho tới nay bộ sách này vẫn được liên tục tái bản để làm tài liệu tham khảo và để cho những người của thế hệ chúng tôi nhớ lại một thời đã được giáo dục một cách toàn diện ngay từ những ngày ngơ ngác cắp sách tới trường.
Thế hệ chúng tôi tuy xa rời bộ sách này từ sáu, bảy chục năm trước nay vẫn còn những trang sách xưa trong trí óc. Bác sĩ Tôn Thất Niệm, thầy thuốc kiêm ca sĩ (hát rất hay!), đã có lần về thăm thầy cũ Lê Nguyên Diệm. Vừa vào nhà ông đã nói lớn: “Con là Carnot đây!”. Ai đã từng học bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư hẳn cũng tường tận chuyện ông Carnot ở tận bên Tây.
Trong bài tạp bút “Quốc Văn Giáo Khoa Thư Gối Đầu Giường”, tác giả Lê Lành đã nhớ lại: “Hè năm ấy chia tay, thày Phong tặng tôi ba tập Quốc văn giáo khoa thư, tái bản lần thứ 13, in năm 1939, với chữ viết thật nắn nót: " Cho con làm sách gối đầu giường ! ". Chỉ là sách giáo khoa cho ba lớp đầu tiểu học, nhưng giúp tôi vỡ vạc đạo làm người. Cuốn lớp đồng ấu toàn những bài học luân lý. Hai tập kia cho lớp dự bị, sơ đẳng là các bài tập đọc sử ký, địa dư, cách trí, đạo đức...
Nước ta thiếu chi chuyện thày trò sáng như gương. Thế mà các soạn giả Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc. Trần Hữu Phúc, Đỗ Thận lại dạy chuyện ông Carnot. Về quê, thăm trường cũ, ông quan nhất phẩm người Pháp cao lớn, râu hàm én , khoác bộ quân phục đại lễ, lủng liểng mề đay, vẫn cúi đầu lễ phép như một trò nhỏ kính cẩn chào thầy giáo bé nhỏ, tóc bạc trắng: "Con là Carnot, thày còn nhớ con không?". Rồi hướng về phía học trò lit nhít: "Nhờ công ơn thày dạy bảo, ta mới nên người hôm nay". Bọn tôi mường tượng ông Carnot như vậy, khi tung tăng tới trường trên đại lộ đẹp nhất nhì Hà Nội, thời ấy mang tên ông, nay là Phan Đình Phùng. Tung tăng đến trường - đi học sướng lắm chứ: "Xuân đi học coi người hớn hở ". Bởi lẽ "Tôi đi học để biết đọc...biết tính toán, biết mọi sự vật và biết phép vệ sinh...cốt nhất là biết luân lý, để hiểu cách ăn ở thành người con hiếu thảo, người dân lương thiện”. Chốt lại nội dung bài " Đi học để làm gì " ấy trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp sơ đẳng là câu toát yếu xúc tích: "Người không học, không biết lý lẽ ", ngang chữ thánh hiền : “Ngọc bất trác bất thành khí. Nhân bất học bất tri lý”. Quốc Văn Giáo Khoa Thư xác lập triết lý giáo dục giản dị, dễ hiểu là thế thì các cây đa cây đề giáo dục lại diễn giải cao siêu đủ thứ nào là thuyết bản chất (Essentialism), thuyết trường tồn (Perennialism), thuyết tiến bộ (Progressivism), thuyết cải tạo xã hội (Social reconstructionism), thuyết hiện sinh (Existentialism)”.
Năm 1995 tôi có chuyện gia đình phải về Sài Gòn, tới thăm một anh bạn cũ. Chúng tôi vui vẻ trùng phùng sau cả chục năm chia cách. Chuyện quanh một hồi là lại nhắc lại chuyện xưa. Sao cái thời xa xưa ấy có chi mà quyến rũ chúng tôi đến vậy. Nói bao nhiêu cũng không đã. Bảo là già thích nhắc lại chuyện xưa cũng không đúng. Ngày đó tóc còn xanh, chúng tôi chưa già, cả dáng vẻ, phong độ tới lời ăn tiếng nói. Trước ngày trở về Canada, tôi tới chào tạm biệt, anh bạn đưa cho tôi một cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư do Nhà Xuất Bản Trẻ in lại vào năm 1994, rưng rưng nước mắt, nghẹn ngào nói: “Toa cầm về cho các cháu đọc!”. Tôi nghĩ là anh cố tránh không nói anh muốn tôi níu lại thời xa xưa nay đã thăm thẳm biền biệt!

Cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư do nhà xuất bản Trẻ tái bản năm 1994
09/2026
|