Bảng
Chảnh
Cho
Chửi
Điên
Động
Đốt
Heo
Iceland
Khú
Mẹ

Mũi
Ngơ
Nhường
Nuôi
Rể
Rụng
Sạch
Sợ
Tài
Tin
Trộm
Tuất


Zippo

NGOẠI TẬP
Hai mươi - Hồ Đình Ngiêm
Tôi trong Phiếm Song Thao - Luân Hoán
Hoàng Xuân Sơn, rất Huế
Võ Kỳ Điền, nối lại cuộc chơi
Ghi vội khi đọc "Pulau Bidong, miền đất lạ" của Võ Kỳ Điền

ĐỘNG

“Động phòng hoa chúc dạ / Khoa bảng quải danh thì”. Hai câu nho đặc trên đại khái nói về hai cái sướng trong đời người. Đó là thi đỗ và đêm động phòng. Các cụ ngày xưa rất giữ kẽ, chuộng tinh thần hơn vật chất, nên đã phân loại đàng hoàng: đại đăng khoa và tiểu đăng khoa. Anh “khoa bảng” vẫn trên chân anh “động phòng”! Ngày nay khác chăng? Nhiều ông bạn tôi đã hưởng đủ hai thứ khoái này. Bèn hỏi cho ra lẽ. Vừa mở miệng đã bị mắng. Sướng chứ sao không! Vậy mà cũng hỏi! Lần khân hỏi thêm. Vậy thứ nào sướng hơn? Này, ngu vừa thôi chứ, sướng là sướng!

Mấy ông bạn tôi thuộc  loại mê đắm nên không phân biệt được hơn thua. Thực ra so sánh quái gì được, một cái thuộc về tinh thần, một cái thuộc về vật chất, mỗi thứ sướng khác nhau. Nhưng ông nhà thơ Nguyễn Bính lại buộc hai thứ với nhau. Tôi hằng khuyên sớm khuyên trưa / Anh chưa thi đỗ thì chưa động phòng. Ông nhạc sĩ Văn Phụng phổ nhạc bài thơ “Trăng Sáng Vườn Chè” này thành ca khúc cho các cô ca sĩ tha hồ đặt điều kiện chuyện nọ cho chuyện kia. Thời bài hát này mới ra đời, cô ca sĩ Ánh Tuyết lả lơi hát ăn khách hết biết. Khán giả thanh niên há miệng chờ đợi cô nàng ẻo lả ngưng hát, hỏi: “Anh chưa thi đỗ thì sao?”. Khán giả thi nhau hét “động phòng”. Cô ca sĩ mới uốn éo ca theo “động phòng”. Vậy là dân chúng la hét vang trời.

Động phòng mà kèm theo điều kiện là ác. Đó là…quyền lợi, ít nhất là đối với chàng rể. Nhưng vì đó là chuyện khoái chí nên đôi khi cô dâu muốn dùng phần thưởng này để…đố vui để học! Chuyện xảy ra ở huyện Lâm Đĩnh, phủ Hứa Châu, tỉnh Hà Nam từ đới tám hoánh, khi ông Bao Công còn đang mần việc. Chàng thư sinh Tra Di đã đậu Tú Tài nhưng sức học bình thường, không có chi xuất sắc. Tra Di thường cùng các bạn tới trường làng để luyện cho khoa thi tới, có khi ngủ lại đêm. Làng bên có một thiếu nữ tên Trình Nương, tuổi vừa đôi tám, ứng xử rất  thông minh lanh lợi. Bố mẹ Tra Di đi hỏi Trình Nương cho con trai và được gia đình bên gái chấp nhận. Hôn lễ được cử hành. Đêm động phòng, Tra Di rất hồi hộp. Chàng định khởi hỷ sự nhưng Trình Nương ngăn lại, thỏ thẻ với tân lang: “Chàng là người có học, thiếp cũng chẳng phải kẻ quê mùa dốt nát. Chúng ta nên hành động khác những kẻ phàm phu tục tử. Đêm nay thiếp nghĩ ra một câu đối, nếu chàng đối được thiếp sẽ trao thân, bằng không xin chàng gác chuyện động phòng, lo ăn học thêm cho khá đã”. Tra Di tin mình “huống thân danh đã đỗ Tú Tài” nên thách nàng cứ ra câu đối. Trình Nương bèn đọc vế đối: “Điểm đăng đăng các, các công thư”. Nàng dùng hai chữ “đăng” và hai chữ “các” đồng âm dị nghĩa. “Đăng” vừa có nghĩa là “đèn”, vừa có nghĩa là “lên”. “Các” vừa có nghĩa là “cái gác” vừa có nghĩa là “cùng”. Tra Di cố nặn óc nhưng không đối được. Chàng mắc cở ra khỏi phòng loan. Sợ cha mẹ bắt gặp thì không biết trả lời sao nên chàng mở cửa ra ngoài trường làng. Khi đó các bạn còn đang dùi mài kinh sử nên chưa đi ngủ. Họ ngạc nhiên sao đêm tân hôn mà Tra Di lại đi ngủ lang. Họ xúm lại hỏi cớ sự. Tra Di thật thà kể rõ nguồn cơn. Mọi người cố nghĩ giúp chàng vế đối nhưng không một ai đối được. Trong số bạn bè hiện diện có Trịnh Chánh tuy cũng là học trò nhưng vô hạnh và lắm thủ đoạn. Đợi cho mọi người ngủ say, tên này lẻn ra đi. Trong khi đó, Trình Nương thấy trò đối của mình làm anh chồng mới mắc cở bỏ đi nên hối hận. Nghĩ rằng thế nào chàng cũng hiểu là nàng chỉ muốn giỡn chơi nên sẽ quay lại. Vậy là nàng để cửa không khóa. Trịnh Chánh đi tới nhà Tra Di, lẳng lặng mở cửa vào phòng tân hôn. Trình Nương nghe có tiếng người lẳng lặng đi vào và leo lên giường. Nàng đánh tiếng: “Phải chàng đó ư? Chàng đã tìm được câu đối rồi sao?”. Bóng đen không trả lời. Nàng tưởng là chồng mắc cở nên không hỏi thêm nữa. Bóng đen vén mùng chui đại vô. Trình Nương tưởng bóng đen là chồng nên phó mặc cho chàng mở cửa đào nguyên. Sáng hôm sau, Tra Di từ trường về xin lỗi vợ: “Vì kém tài nên đêm qua ta không tìm được câu đối, nghĩ ra hổ thẹn vô cùng nên bỏ đi suốt đêm, giờ này mới về, thật là lỗi phận làm chồng, mong nàng tha thứ”. Trình Nương điếng hồn. Nàng chỉ thốt ra lời: “Nếu quả thật đêm qua chàng không về thì đôi ta cách biệt từ đây, xin chàng hãy quên thiếp và chăm chỉ học hành”. Trình Nương lặng lẽ vô phòng treo cổ tự tử.

Chuyện còn phần Bao Công xử án Trịnh Chánh nhưng không ăn nhậu chi tới chuyện động nên tôi lơ đi. Thiệt tội! Không biết đối điếc làm chi cho hư bột hư đường hết trơn hết trọi.

Chuyện động phòng đâu phải chuyện lôi thôi như vậy. Đây là chuyện giản dị nhưng nghiêm túc. Ngay cái nơi để cho cô dâu chú rể động phòng cũng…nghiêm túc. Thập niên 60 của thế kỷ trước, anh bạn tôi lấy vợ, có mời tôi làm phụ rể. Ngoài phòng khách, họ hàng ăn uống ồn ào vui vẻ. Thấy chật chội, đám trẻ chúng tôi rút vào phòng ngủ. Vài tên ngả người trên chiếc giường nệm cho giãn gân giãn cốt. Bà mẹ chú rể đi ngang qua, vội xông vào phòng với nét mặt hoảng hốt. Các cậu không được ngồi trên giường này! Mấy tên phụ rể vội đứng dậy với vẻ mặt không vui. Khi bà đi ra, chú rể nói nhỏ. Giường động phòng đó tụi bay! Bà già lắm chuyện! Giờ còn động chi nữa! Thời đó, trên nửa thế kỷ trước, bạn tôi đã ăn cơm trước kẻng. Ngày nay, chuyện…động coi bộ hiếm hơn nữa. Thử chán chê rồi còn động cái nỗi chi!

Nếu ôn cố tri tân, chuyện động là chuyện…kinh thiên động địa. Đó không phải là chuyện của đôi trẻ mà là chuyện của tổ tiên. Động rồi cũng còn “lễ nghĩa” mỗi khi…tái động. Nhà văn Chu Tử, trong một bài viết nào đó mà tôi không nhớ xuất xứ, đã kể lại chuyện một nhà nho mà ông quen biết. Mỗi khi ông này muốn gần vợ là phải ra trước bàn thờ gia tiên, đốt hương trình các cụ đã khuất mày khuất mặt, rồi mới vào với vợ. Theo vị túc nho này thì việc vợ chồng đụng nhau là hoạt động nối dõi tông đường nên phải trình các cụ biết. Ngày nay trai gái đụng nhau là chuyện vui chơi nên chẳng phải xin phép ai. Cứ tưới hột sen!

Tuổi trẻ hôm nay là tuổi sốt ruột, họ chẳng chịu đợi chờ. Thích chi làm nấy. Làm tới cả chuyện mà người xưa coi như tối quan trọng. Nói tới chuyện động phòng không thể không nhắc tới thơ của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Bài “Tối Tân Hôn” là một bài ít ai không biết.

Ngực sát ngực môi kề môi
Nàng cùng ta nhìn  nhau cùng chẳng nói
Ôm vai nhau cùng lắng tiếng xa xôi.
……
Hai xác thịt lẫn vào nhau mê mải
Chút thơ ngây còn lại cũng vừa chôn
Lúc tỉnh dạy bùn nhơ nơi hạ giới
Đã dâng lên ngập quá nửa linh hồn

Thi hào họ Vũ là thầy của tôi tại lớp Đệ Nhị ban Văn Chương trường Chu Văn An niên học 1955-1956. Chúng tôi có được cái may mắn ít có là được tác giả dạy thơ của chính mình. Bữa giảng bài “Tối Tân Hôn”, sau khi đã lim dim mắt say mê đọc thơ mình bằng cái giọng nhừa nhựa quen thuộc, thầy Chương buông một câu: “Khi làm bài thơ này, tác giả chưa hề biết đàn bà!”. Chúng tôi đã tin như vậy. Đó là sự tưởng tượng thần sầu. Vì ngoài bài “Tối Tân Hôn”, thi hào của chúng ta còn…động lần nữa trong bài “Động Phòng Hoa Chúc”.

Rượu hợp cẩn đem theo từ nguyệt điện 
Mấy vò thơm chuốc mãi tận sông Ngân 
Nhưng đến lúc kề môi trên miệng chén 
Chỉ than ôi nồng cháy những men trần 
Kìa nệm gối đương chờ ta xô lệch 
Thầm bên tai nhắc gọi phút điên say 
Và đương rụng giữa luồng trăng chênh chếch 
Cánh hoa tàn sau chót của thơ ngây 

Một tác giả hôm nay, bây giờ, cũng thơ về chuyện lần đầu đó. Thơ nay quả có khác thơ xưa. Nhà thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn, hai lần lấy vợ, hai lần động phòng, đã viết vào năm 2012.

Hôn em từ ngực lên đầu
Nụ hôn trên đỉnh ngọt ngào phù vân
Hôn em từ trán xuống chân
Động Đào Nguyên mở
Hỏi gần
Hay xa?
Yêu em dưới ánh đèn hoa
Ôm vào hương tóc lượt là giai nhân
Yêu em da ngọc trắng ngần
Cởi ra
Lấp lánh
Một vầng trăng tiên

Người ta vẫn nghĩ rằng chuyện phòng the là chuyện của các ông. Đêm động phòng là đêm của người nam tung hoành, người nữ chỉ chịu đựng. Vậy nên khoe ra chuyện này chỉ có các ông nhà thơ. Nhưng thời buổi nay, suy nghĩ này đã xưa rồi. Người nữ cũng đã lên tiếng. Nhà văn, nhà thơ Lê Thị Thấm Vân, trong “Bài Học Vỡ Lòng” cũng ngang ngửa với nam nhi.

Năm mười bảy tuổi
Trong đêm đen
Lần đầu tiên
Khám phá ra thân thể kỳ lạ của người đàn ông
Sau nụ cười; giọt nước mắt dâng hiến
Là khoảng cách
Hun hút dài
Thăm thẳm dài
Chập chùng dài
….
Ơi! Em lạc mất em.

Dân ngu khu đen như chúng ta mà chuyện động phòng đã mê ly như vậy, chuyện động phòng của các bậc vua chúa chắc bội phần mê ly. Chưa chắc à! Cái chi dính tới thủ tục nghi lễ là mất hứng thú tự nhiên.

Các hoàng đế Trung Hoa xưa thường có tam cung, lục viện, thất thập nhị phi. Vậy là có cả bày mỹ nữ cho vua muốn động lúc nào thì động. Nhưng động chính thức chỉ có một lần: khi cưới hoàng hậu. Nếu hoàng hậu chán sống, lìa đời trước nhà vua thì nhà vua có quyền lập hoàng hậu khác và lại…tái động.  Nơi động phòng của nhà vua không phải trong phòng ngủ của hoàng đế mà tại nơi cử hành nghi thức thành thân. Đúng theo truyền thống Trung Hoa, phòng hoa chúc được trang trí đỏ rực. Trên giường tân hôn có một bộ chăn đệm màu đỏ “bách tử” được thêu hình một đứa trẻ thần thái phi phàm tượng trưng cho việc “đông con nhiều phúc”. Hoàng hậu được kiệu tới phòng tân hôn bằng kiệu từ Đại Thanh Môn qua Thiên An Môn.

Tùy theo thời mà thủ tục nhập phòng khác nhau. Thời Tùy Đường, hoàng đế và hoàng hậu sẽ cùng nhau bắt chéo tay uống rượu, sau đó mới lên giường. Lên giường cũng có thủ tục đàng hoàng chứ không phải muốn leo lên là leo đâu. Họ phải quỳ hướng về phía Bắc để lạy tạ, sau đó hoàng đế được thái giám dẫn vào phòng, trút bỏ y phục. Hoàng hậu vào sau, trút bỏ xiêm y, quan thái giám lui ra, lúc này hai người mới được tự do…động.

Thời nhà Thanh lại khác. Hoàng hậu vào phòng trước. Hoàng đế được dẫn từ cung Càn Thanh đến cung Khôn Ninh. Sau khi vén khăn đội đầu của hoàng hậu, hoàng đế mới cùng hoàng hậu ngồi trên giường hỷ long phượng. Một nữ tỳ dâng lên một chậu đồng bên trong đựng những cái bánh tròn giống như món sủi cảo tên “tử tôn thịnh vượng”. Ăn xong bánh hợp cẩn, họ còn phải thời một tiệc hợp cẩn ngay trong phòng. Vua và hoàng hậu cùng uống rượu hợp cẩn giữa văng vẳng tiếng hát “giao chúc ca” do một ca nhi hát. Món cuối là mì trường thọ. Ăn xong hoàng hậu mới trút bỏ xiêm y và lên giường. Hoàng đế cởi bỏ long bào sau đó và cũng lên giường. Lúc này họ mới được động phòng. Ăn uống no say chắc chuyện động cũng chắc dạ hơn!

Làm hoàng đế như vậy mất sướng trong chuyện gối chăn ngày hợp cẩn. Chuyện riêng tư mà như chuyện công cộng với dàn quan chức rộn ràng hầu cận. Dân gian chúng ta động phòng đã điếu hơn nhiều. Cứ hợp ý trời mà hưởng chăn chiếu lần đầu. Chẳng có cặp mắt nào nghía tới. Khi vui lại giở bàn son quân ngà! Vậy nên bạn bè tôi ông nào cũng lắc đầu không thèm làm vua. Nhưng khi được nhắc tới tam cung lục viện thất thập nhị phi, các ông ấy lại sáng mắt gật đầu.

Đúng là những tên ba phải có lập trường chong chóng!

11/2017