Trời sắp sang xuân, nhiệt độ đã chịu xuống thang, nhưng cô nàng tuyết vẫn cứ luyến lưu không chịu rời gót…tuyết. Làm như bàn dân thiên hạ quý hóa nắm áo không cho đi. Chúng ta có lễ giải sao, sao không thấy có lễ giải tuyết hè!
Tuyết có nghĩa là đường xá nhơ nhớp, uớt át, trơn trượt. Hè đường càng nhớp nhúa hơn. Khổ cho những người sống vất vưởng trên lề đường. Người ta gọi đó là những người vô gia cư. Trời mùa đông ở Montreal lạnh thấu xương, nằm trong chăn êm sưởi ấm, còn cảm thấy cái lạnh. Những người vô gia cư, màn trời chiếu đất, cái lạnh chắc thấm vào xương tủy. Tôi chỉ mới tưởng tượng ra như vậy đã thấy cái rét ơn ớn trong người. Từ tưởng tượng tới thực tế chắc có một khoảng cách không gần. Những người trẻ họ không phí thời giờ tưởng tượng như vậy. Họ nhào vào thực tế.
Hàng năm, cứ vào khoảng trung tuần tháng 3, sinh viên tại các trường Đại Học tại Montreal lại hẹn nhau ra ngủ 5 đêm với những người vô gia cư. Họ vừa muốn chia sự rét mướt với những người “đầu đường xó chợ” vừa muốn thu được chút tiền để giúp đỡ những người này. Anh Josh Redler, sinh viên trường Đại học Concordia, là một trong những sinh viên này. Anh tham gia chiến dịch “ngủ đường” từ năm 2007 đến năm 2015. Tám năm, 40 đêm màn trời chiếu đất, anh có nhiều kỷ niệm với những đêm ngủ đường. Tiếc là anh không quen viết nên anh không ghi lại những cảm nghĩ của anh về những kinh nghiệm quý báu này. Trong một bài báo, anh chỉ viết: “Phải nói ngay là tôi chưa bao giờ thực sự là một kẻ vô gia cư, nhưng tôi đã có lần tạm thời từ bỏ tất cả các tiện nghi để coi xem ngủ đường nó như thế nào. Tôi đã biết người ta cảm thấy thế nào khi không có tiền trong túi, không có một chốn nương thân, không thay áo quần và không biết bữa ăn tới mình sẽ có chi ăn không…Tôi đã cảm được những thăng trầm trong 40 ngày đêm trên đường phố Montreal, những giây phút cảm thấy mình như vô hình và cô đơn trước hàng trăm bộ hành bước ngang qua”.
Anh Josh Redler năm nay đã thuộc loại…già, không còn là sinh viên nữa nên đã chấm dứt phần của anh. Những sinh viên nối tiếp của các trường Đại học ở Montreal, tiếp tục “truyền thống”, đã bắt đầu…vô gia cư vào đêm thứ hai ngày 12/3/2018 vừa qua. Đêm đầu tiên họ ngủ ở góc đường Mackay và De Maisonneuve. Sinh viên Sebastian Molina cho biết: “Phong trào đã lan sang toàn Canada. Sinh viên toàn quốc đều muốn trải qua kinh nghiệm của người vô gia cư đồng thời quyên tiền giúp họ. Chúng tôi chỉ được ăn những gì người ta cho!”.
Không hài lòng với những chia sẻ thiếu hụt của các sinh viên, tôi tìm tới một ký giả. Ký giả chắc chắn sẽ cung cấp cho chúng ta những cảm nghĩ đầy đủ hơn. Đó là ký giả của báo New York Times, ông William James, mới năm ngoái, cũng vào tháng ba, anh James cải trang thành một cái bang thực thụ để sinh hoạt với dân lề phố. Nơi anh hành nghề là thành phố Miami, tiểu bang Florida nắng ấm. Vậy là không có cái rét mướt của mùa đông nhưng cũng chẳng sao. Quần áo rách rưới, anh còn “trang bị” thêm một cái chân què cho thêm phần bi thảm. Vừa lê lết tới đám vô gia cư bên đường phố, một người đã đưa cho anh cây gậy gỗ và nói: “Người anh em, hãy cầm lấy nó, như thế sẽ thuận tiện hơn nhiều!”. James đón cây gậy, cám ơn. Tay anh còn đang ve vuốt cây gậy tình nghĩa thì người cho gậy đã vội lướt đi trước mặt anh. Cái dáng lê lết làm lòng anh như bị thiêu đốt: ông ta đi cà nhắc! Chính ông ta cần gậy hơn anh. Chưa bao giờ anh cảm thấy sự lừa dối của anh lại mang tới cho anh sự dằn vặt đến vậy. Nhưng lỡ rồi, đã vào vai diễn, màn sân khấu đã vén lên, anh đành theo kịch bản. Một người khác dẫn anh tới chỉ cho chỗ nào có các thùng rác của các siêu thị để anh đi moi thực phẩm và đồ phế thải. Họ còn truyền kinh nghiệm những nơi nào béo bở nhất, lượm giờ nào tốt nhất, để anh đỡ vất vả trong việc mưu sinh.
Trong một lần James đang lui cui moi thùng rác, một thanh niên da đen đã bước tới, cười tươi nhe hàm răng trắng bóng, vỗ nhẹ lên vai anh, giúi cho anh một bao phế liệu và nói: “Này người anh em, hãy vô nghỉ ngơi đi, tặng anh túi đồ phế liệu này cho anh đỡ mất công”. Anh ngạc nhiên đến không nói được. Phải một lúc lâu sau, anh mới thốt nên lời: “Cám ơn anh, nhưng đâu có được. Anh phải vất vả lắm mới có được túi phế liệu này”. Anh da đen vội nói: “Tôi dễ dàng hơn anh một chút!”. Và tất tả bỏ đi.
Buổi trưa, bụng đói, anh được một người đàn ông còng lưng đưa cho hai ổ bánh mì mới: “Này người anh em, hãy ăn đi”. James hỏi lại: “Anh cho tôi, còn anh lấy chi ăn?”. Câu trả lời quen thuộc: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút!”. Cầm trong tay hai ổ bánh mì, anh James ứa nước mắt.
Tối, anh cùng đám đông ngủ dưới chân cầu. Một người nói: “Này người anh em, hãy đến ngủ ở chỗ tôi, nơi đó thoải mái hơn một chút”. Anh ngần ngại hỏi lại: “Vậy ông ngủ ở đâu?”. Một nụ cười kèm với câu quen thuộc: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút!”.
Có đầy tình người trong đám người khốn cùng này. Sao họ có thể đối xử với nhau như vậy được? Đúng ra họ phải tranh dành nhau vì chỉ một chút tiện nghi hơn, một chút thực phẩm hơn, đều là những vất vả mới có được. Anh nán lại với họ tới nửa năm và viết một loạt bài về những người ở dưới đáy xã hội này. Bài báo trên tờ New York Times mang tên: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút!”. Loạt bài đã làm chấn động độc giả của tờ báo danh tiếng này. James viết: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút”, là câu nói kỳ lạ nhất lưu truyền trong những người vô gia cư, câu nói kỳ lạ nhất mà tôi từng được nghe thấy trong đời, bởi vì mỗi khi nó được thốt ra từ một người vô gia cư tàn tật, rách nát mà với tôi là không thể nào khốn khó hơn được nữa, nó bỗng biến thành một sức mạnh cảm hoá mãnh liệt khiến hết thảy những quan niệm cố hữu về người khác, sự lạnh nhạt, vô tình, sự hãnh tiến và ích kỉ của một người ở tầng lớp trên như tôi tan biến. Nó cho tôi một thứ niềm tin về cuộc sống mà tôi chưa bao giờ cảm thấy khi đến những toà nhà tráng lệ nhất New York, giữa những chính khách, nhà tài phiệt, hay những ngôi sao trên đỉnh cao thế giới. Và chúng ta, những con người chắc chắn giàu có hơn rất nhiều những người vô gia cư khốn khổ, lại thường là những kẻ kêu ca than phiền về số phận nhiều nhất. Thực ra cuộc đời sẽ đơn giản và hạnh phúc hơn rất nhiều nếu chúng ta có thể nói “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút” với bất kì ai đó mà bạn gặp trên đường đời. Bởi vì, như những người vô gia cư kia, bạn luôn có thể nói câu nói đầy cảm hứng đó ngay cả khi bạn không có gì cả, ngoài… một trái tim”.
Con mắt của chúng ta là một con mắt khiếm khuyết, nhiều người trong chúng ta nhìn những người lê la trên hè phố như những đống rẻ rách lôi thôi và hôi hám. Thực ra họ là những người trọng nghĩa khinh tài. Hoàn cảnh đã xô họ vào một cuộc sống bất như ý nhưng họ có tinh thần “cái bang” trong những truyện chưởng. Nhiều người trong chúng ta đã nhìn ra được cái phần “người” trong họ và đối đãi với họ trong tình người.
Những ngày đầu năm nay, Montreal chúng tôi thương tiếc một người đi. Đó là Linh Mục Emmett Johns, người được dân hè phố yêu mến và đặt cho danh hiệu “Pops”. Pops là một từ thân thương chỉ người cha, chẳng biết dịch sao cho sát, tôi lười biếng dùng một từ cũ: “bố già”! Ông mất vào tuổi 89. Năm 60 tuổi, thôi coi giáo xứ St. John Fisher ở Pointe Claire, ông nhào vào đám thanh niên hè phố để giúp đỡ họ.
Chuyện đời ông cha không giống ai này lắm nỗi truân chuyên. Sau khi học xong trung học, ông muốn làm thừa sai đi giảng đạo tại Trung Hoa. Ông theo học được bốn năm nơi Hội Thừa Sai tại Scarborough thì bị đuổi. Ông trở về nơi chôn nhau cắt rốn là thành phố Montreal và xin vào Đại Chủng Viện. Năm 1952, ông được thụ phong linh mục. Ông được bổ đi phụ trách các xứ đạo quanh quẩn tại Montreal và vùng phụ cận. Cuộc đời của một ông cha nhiều trăn trở như ông đã khiến ông nhiều lần phải vào bệnh viện chữa bệnh trầm cảm. Có điều vui vui là ông cha này từng lái máy bay và có máy bay riêng. Đó là một chiếc Cessna 182. Ông giữ được chiếc máy bay này trong 16 năm cho tới khi ông lập hội “Le Bon Dieu Dans La Rue”, Chúa lòng lành trên đường phố. Với số tiền bán máy bay, vay mượn thêm 10 ngàn đô, ông mua một chiếc xe van, đêm đêm lái rảo quanh các đường phố. Ông đã thực hiện đúng câu Phúc Âm của thánh Matthew: “Bất cứ điều chi con làm cho một trong những anh chị em khốn khó nhất của ta, tức là con đã làm cho ta”.
Trên xe là cà phê nóng và hotdog. Ông dừng xe, cho họ ăn uống và trò chuyện với họ, tìm cách giúp đỡ những người tự nguyện muốn thoát ra khỏi đường phố để có một đời sống xứng đáng hơn. Năm 1993 ông mở một nhà tạm trú cho đám thanh niên này. Bốn năm sau, năm 1997, ông mở thêm một trung tâm khác tại đường Ontario. Tại đây có các lớp học chữ, tư vấn, âm nhạc, nghệ thuật, tìm việc làm. Các tiện nghi như nhà ăn, phòng tắm, phòng giặt và các hoạt động thể thao và giáo dục cũng có đầy đủ.
Tang lễ của ông rất cảm động. Ngoài các chức sắc của tỉnh bang Quebec và thành phố Montreal cổ cồn cà vạt nghiêm trang, còn có các dân bụi đời, các em chịu ơn ông ngày xưa nay đã khôn lớn. Trang phục của họ rất thoải mái, nhiều người còn có những vết xâm hoặc những vòng đeo trên khắp thân thể. Họ có một điểm chung: nước mắt khóc thương cho người “bố già” đáng mến của họ. Cha Francois Lehmann, người bạn 50 năm của ông, đã phát biểu trong tang lễ: “Sức mạnh của tình yêu được thể hiện trong sáng hôm nay: tụ tập trong nhà thờ này, chúng ta thấy những bộ đồ lớn và cà-vạt, và rất nhiều người khác với những mái tóc đủ màu và những vòng đeo đây đó trên người. Đó là tình yêu: mang mọi người về một mối”.
Tình yêu của cha Johns được các bạn trẻ bùi ngùi nhắc lại. Cô Talasia nói qua nước mắt: “Cha đã cứu đời tôi! Cha trả tiền thuê nhà cho tôi nhiều lần. Khi có tiền, tôi muốn hoàn lại, cha hỏi: “Bộ con muốn hạ nhục cha à?” Cha cho tôi một gia đình. Cha cho tôi một mục đích sống. Cha nâng tôi dậy. Cha thật tuyệt vời!”.
Olin Sobarzo Steinman, 27 tuổi, nhắc lại chuyện mười năm trước: “Tôi bắt đầu tới với cha vào năm 17 tuổi. Chưa bao giờ tôi nói lời cám ơn cho riêng tôi. Nhưng cho thế hệ chúng tôi đã nhận được sự cứu giúp của cha, tôi muốn nói lời cám ơn, cho mọi người. Tôi biết chúng tôi sẽ không có mặt ở đây hôm nay nếu không vì ông cha này!”.
John Rice, 23 tuổi, cho biết anh đã giã từ được cuộc sống hè phố nhờ cha Johns. “Thập niên 1980, khi không ai nghĩ tới những thanh thiếu niên hè phố, cha đã đơn thân giúp chúng tôi. Ngay bây giờ cha đã ra đi, chúng tôi vẫn có những sự giúp đỡ mà cha đã xây dựng được. Cha đã làm tất cả trong khi chẳng ai đoái hoài tới chúng tôi”.
Cuộc sống của Ashley Smith đổ vỡ hoàn toàn vào năm 2006. Cô bỏ hai con ở Alberta, tới Montreal sống đời vô gia cư. Trong một năm trời lăn lộn với những bất trắc, cô nghiện ma túy. Cô gặp cha Johns khi chiếc xe van của cha ngừng lại nơi cô ngủ. Cha khuyên cô trở về với con vì hai đứa trẻ cần mẹ. Cha cung cấp vé xe đò và cho cô tiền nuôi con. Cha thuyết phục cô bằng một giọng cương quyết và cứng rắn nhưng cũng rất dịu dàng và yêu thương. Ngày nay, đã 35 tuổi, cô có một cửa hàng nhỏ và nuôi dậy hai con đã tới tuổi teen. “Nếu không có cha, tôi đã chết cóng ở Montreal. Tôi đã không có mặt tại đây. Cha thật tuyệt vời với trái tim vàng”.
Ông cha chịu chơi này không từ nan một chuyện gì nếu có thể giúp được đám thanh thiếu niên bị đời vứt ra đường phố kể cả việc cung cấp bao cao su cho các thanh niên. Có lần, nhân viên an ninh phi trường tìm thấy bao cao su trong túi quần của cha. Họ ngơ ngác nhìn cha vì lúc đó cha đeo miếng nhựa trắng ở cổ áo. Chắc họ tưởng ông cha này là cha tầm bậy! Mặc con mắt của người đời, cha phớt lờ nếu họ không hiểu cuộc sống của cha. Trong mắt cha chỉ có những cuộc sống bất hạnh là đáng kể. Nhiều người tới dự đám tang cha còn nhớ như in không khí gia đình ấm cúng trong chiếc xe van của cha. Họ chia nhau hotdog, cà phê nóng, thuốc lá và những chiếc vé metro. Năm nay đã 40 tuổi, anh Montigny ngậm ngùi nói: “Ông không bao giờ để cho bạn tuyệt vọng. Nếu bạn ngã xuống, ông luôn có mặt để nâng bạn dậy. Ông không ngừng tin nơi tôi. Lúc mọi người đóng cửa, cánh cửa của ông luôn mở rộng”.
Cha Johns là người tiên phong và nhiệt tình nhất trong việc cứu giúp những người vô gia cư. Họ là những người có cuộc sống bị gẫy đổ và buông xuôi theo thất vọng. Muốn giúp họ làm lại cuộc đời, cần hiểu và thông cảm với họ. Họ không cần của bố thí nhưng cần một bàn tay nhấc họ ra khỏi đống bùn họ đang ngụp lặn.
Chiếc xe van tình nghĩa của cha Johns ngày nay vẫn được các hội viên của tổ chức Dans La Rue tiếp tục điều hành. Tổ chức giúp người vô gia cư Old Brewery Mission cũng đã có một xe buýt hoạt động trên đường phố. Trên xe chất đầy quần áo, cà phê và bánh trái. Người vô gia cư có thể lên xe bất cứ chỗ nào và muốn tới đâu cũng được. Thường xe buýt giới thiệu những nơi tạm trú khi trời mùa đông quá lạnh lẽo. Họ được đối xử một cách tương kính với tình người. Khi họ tìm lại được sự tự trọng và khả năng của họ, cộng với bàn tay nâng đỡ của những người thiện tâm, họ sẽ rời đường phố, trở lại cuộc sống bình thường.
Bàn tay nâng đỡ đó bắt đầu từ cha Emmett Johns nay đã có nhiều bàn tay tiếp nối khác.
03/2018
|