Alaska
Cần
Cắt
Chim
Đập

Gặp

Hồng
Karoshi
Khách
Kiếm
Leo
Marathon
Maritime
Mướn
Nghỉ
Ngựa
Nhẫn
Pháo
Răng
Sáng
Sến
Tàu
Tên
Thả
Ung
Xả
Xanh

PHỤ LỤC
NGHIÊM giữa bè bạn
HUỲNH CÔNG ÁNH, người vượt thoát
Phiếm & SONG THAO
Gặp lại vua "Phiếm"
"Thời Nay" và tuổi thơ của tôi

GẶP

Trong những lần đi đó đi đây, tôi thường bắt gặp bên đường những thứ khó quên. Nói lần gần đây nhất trước. Tháng 5/2017, tôi qua Portland thăm anh chị Từ Công Phụng. Trò chuyện, ăn uống xong xuôi, định kiếu từ ra về, nhưng chị Ái nhất định không cho về, rủ mọi người đi thăm đền Đức Mẹ Sầu Bi. Lần tôi tới Portland trước, cách đây chừng dăm năm, chị đã dẫn tôi đi thăm rồi. Nghe tên đền này đã thấy…sầu bi.  Nhà tôi và vợ chồng chú em cùng đi với tôi lưỡng lự. Chúng tôi đã dự tính sẽ đi shopping.  Ở Portland mua sắm cứ phơi phới không phải trả một đồng thuế nào. Đây là một tiết mục hấp dẫn. Nhưng rồi nể lời mời của chị Ái, chúng tôi kéo nhau đi. Thực ra nơi đây là một thánh tích rất nổi tiếng. Trong một bài viết, linh mục Giuse Vũ văn Thiên đã giới thiệu đền thánh này như sau:  “Tại thành phố Portland, thuộc tiểu bang Oregon, Hoa Kỳ, Đức Mẹ Sầu Bi được tôn kính cách đặc biệt từ những năm 20 của thế kỷ trước. Đây là một vùng đồi núi, quanh năm được phủ kín một màu xanh của những rừng thông bạt ngàn. Tượng Đức Mẹ Sầu Bi (Pieta) trạm khắc bằng đá cẩm thạch màu trắng ngự trong một hang đá lớn. Cạnh đó là một ngôi nhà thờ trước đây của một tu viện thuộc dòng Nữ Tỳ Đức Maria. Từ gần một thế kỷ, nơi đây đã trở thành Đền thánh quốc gia tôn kính Mẹ Sầu Bi (The National Sanctuary of Our Sorrowful Mother). Được biết, với sự hiện diện của cộng đoàn công giáo Việt Nam từ năm 1977 tại thành phố Portland, ngày hành hương truyền thống vào dịp đầu tháng 7 dương lịch hằng năm trở nên sầm uất và sốt sắng hơn. Số giáo dân Việt Nam về tham dự ngày hành hương lên tới 6 hoặc 7 ngàn người”.


Nguyên bản bức tượng Pieta của Michelangelo đặt tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ở Rome.

Sở dĩ gọi là “Mẹ Sầu Bi” vì đây là hình ảnh Đức Mẹ trong giờ phút bi ai nhất của một đời người: ôm xác con được hạ từ trên thánh giá xuống. Bức tượng Mẹ Sầu Bi (Pieta) mà linh mục Vũ văn Thiên nói tới là tác phẩm điêu khắc của danh họa Michelangelo. Năm 1497, Hồng Y Jean de Billheres gợi ý cho nhà danh họa này tạc một bức tượng để trưng bày trên một bàn thờ phụ trong Vương Cung Thánh Đường thánh Phêrô tại La Mã. Michelangelo đã dùng một tảng đá hoa cương Carrara mà ông khoe là tảng đá hoàn hảo nhất mà ông dùng từ trước tới nay. Bức tượng tên Pieta đã được Michelangelo để hết tâm huyết tạo thành nên trở thành một tuyệt tác ghi dấu một đoạn đường mới trong sự nghiệp của ông. Tôi đã có may mắn được chiêm ngưỡng bức tượng gốc này trong một dịp tới viếng đền thánh Phêrô. Tôi vốn mê tượng nên lần tới đền thánh Mẹ Sầu Bi trước đây, tôi đã thỉnh một bức về. Vậy nên lần này tới đền, tôi có vẻ lơ là. Đền gồm những kiến trúc ở phía dưới và một khu rừng thông ở trên cao. Muốn lên khu rừng này phải dùng thang máy. Lần này, trong khi đi quanh những con đường mòn của khu rừng trên cao,  tôi bắt gặp một mái nhà kiểu Việt Nam. Tới gần mới biết là nơi đây có đặt tượng đài Đức Mẹ La Vang. Phía trước tượng đài có tấm bảng ghi: “Our Lady of Lavang – Vietnamese Shrine”. Khỏi phải nói, tại nơi xa xôi này, được thấy Đức Mẹ La Vang đi lạc qua, là một thích thú cho bất cứ một con dân Việt nào. Tôi xăng xái tới đưa máy hình ra chụp lia lịa, say mê đọc bản sự tích Mẹ La Vang bằng tiếng Anh cho du khách tỏ tường.

1

2
Đền Đức Mẹ La Vang tại Portland.

Căn nhà nho nhỏ nhưng rất Việt Nam của Đức Mẹ La Vang đã làm tinh thần dân tộc của tôi được vuốt ve. Cuộc gặp gỡ này là một cuộc gặp lớn. Lớn hơn nhiều so với một cuộc gặp khác làm đã cái thú rất trần tục của tôi: cái thú bia bọt. Bia là một loại chất lỏng quyến rũ. Những ngày làm báo ở Sài Gòn xưa được đánh dấu bằng những bàn nhậu. Không có bia là thiếu vắng tình bạn bè. Hồi đó tôi đã nghĩ như vậy. Không có thể tưởng tượng được một cuộc gặp gỡ mà không có bóng dáng chai bia. Nghe đã thấy nhạt nhẽo! Đó là chất nối kết thân tình của những người làm báo chúng tôi ngày đó. Chừ ngồi nhớ lại thấy tại sao hồi đó không có chất cồn khác, ngoài bia, trên bàn nhậu của chúng tôi. Kể ra cũng có nhưng chỉ trong những dịp đặc biệt mới có chất cồn đậm hơn bia như whisky chẳng hạn. Có lẽ vì bia phổ thông hơn, ngồi quán nào cũng có. Cũng có lẽ hồi đó chúng tôi rách rưới không kham nổi những thứ nặng ký hơn. Tuyệt nhiên không có cognac. Chuyện này cũng dễ hiểu vì lúc đó hàng Mỹ nhiều hơn hàng Pháp, cognac của Pháp là thứ quý hiếm, chỉ giới giầu có mới đủ khả năng đụng tới. Rượu vang cũng không có trong những cuộc nhậu, có lẽ cũng vì sự vắng bóng hàng Pháp trong thời gian này. Bây giờ sống trong tỉnh bang Quebec này, hơi hướm của Pháp còn đậm nét, trên bàn nhậu mới có rượu vang và cognac.

Nhà báo khác nhà văn. Ông Mai Thảo có làm báo nhưng cốt ông vẫn là nhà văn. Vậy nên ông chơi toàn rượu Pháp. Ngày ở Việt nam, tôi chưa quen ông nên không biết ông uống ra sao. Nhưng nghe kể thì hình như bia không có trong danh mục những chất cay ông nhấm nháp thường ngày. Khi ông Mai Thảo qua Montreal chúng tôi chơi, thứ duy nhất ông uống là cognac. Chỉ cognac. Vậy nên khi tôi qua chơi Cali, tới thăm ông, tôi cũng thủ chai cognac tới uống với ông.

Nhà thơ Nguyên Sa đã thơ về cái “nết” xài cognac của Mai Thảo:

Ông ngồi giữa hai ông tây
Ông kia tên Mạc ông này tên Cô
Buổi sáng ông chỉ say vừa
Nửa khuya mới tới đúng mùa nho ngon
Tết này ông sáu tư tròn
Nhìn ông tôi thấy vẫn còn tháng giêng.

Hai ông tây này là hai chai cognac, ông Mạc chính tên tây là Martell! Ngoài Martell còn có ông Hennessy nhưng ông này không được nhà thơ Nguyên Sa cho ngồi với ông Mai Thảo.

Mặc cho ông Mai Thảo say sưa với cognac, chúng tôi vẫn cứ bia làm chuẩn. Bia của chúng tôi là bia lưu động. Lê la hết quán này tới quán khác. Đã ngồi vào bàn nhậu là phải tới giờ giới nghiêm mới rã đám. Năm 2008, khi tới thủ đô Amsterdam của Hòa Lan, tôi gặp một lối uống bia lưu động khác. Họ chỉ ngồi một chỗ nhậu bia nhưng vẫn lê la khắp thành phố. Họ nhậu trên một chiếc xe. Xe màu vàng gồm một cái bàn đủ chỗ cho chục người ngồi (tôi không đếm nên không rõ con số chính xác). Giữa bàn là anh hoặc chị bán bia. Ngồi chung quanh là ẩm khách. Điểm đặc biệt là dưới chân mỗi ẩm khách là một bàn đạp như cái bàn đạp của xe đạp thông thường. Không hiểu bằng một hệ thống cơ học như thế nào mà khi tất cả ẩm khách vừa ngồi uống bia vừa đạp thì chiếc xe chạy băng băng trên đường phố. Loa phóng thanh trên xe mở lớn những bản nhạc vui nhộn khiến ai cũng phải chú ý. Nhậu kiểu này khoái biết bao! Tôi vẫn nghĩ đây là nét độc đáo của Amsterdam. Nhưng không phải. Mới đây, vào tháng 6/2017, tôi tới thành phố Victoria, kế cận Vancouver của Canada, cũng đã bắt gặp chiếc xe y chang như vậy. Tôi sững sờ như gặp lại cố…xa! Lại nữa, mấy ngày gần đây, tôi coi trên ti-vi, thấy trên đường phố Budapest của Hungary cũng có chiếc xe bia chạy lăng quăng. Chỉ khác chiếc xe này có màu gỗ nên trông tối tăm hơn. Tôi post lên facebook khúc phim tôi quay cảnh chiếc xe bia chạy trên đường phố Amsterdam và hình chiếc xe tại thành phố Victoria. Dân mạng  facebook  khoái quá trời. Một ông ở Việt Nam nhảy vào comment cho biết là ở Huế cũng có chiếc xe bia này. Nếu vậy thì dân ta cũng…văn minh đấy chứ! Tôi yêu cầu ông bạn này chụp chiếc xe ở Huế post lên cho bà con coi. Cho tới nay vẫn chưa thấy ông này đưa hình lên.


Xe uống bia lưu động tại Victoria, Canada.

Bà con với bia là cà phê. Dân chơi phải thông suốt cả hai. Cà phê phin Việt Nam kiểu cổ điển cái nồi ngồi trên cái cốc pha với sữa đặc có đường là thứ dân ta rất ưa. Chỉ cà phê và sữa, cấm được có đường. Vậy mới ngon. Sau 1975, tôi đã có lúc mở quán bán cà phê. Hồi đó có khi tìm không ra sữa, phải đi mua sữa được người ta chế ra từ đường. Thấy có vẻ sữa nhưng vẫn còn mùi đường. Mấy ông khách thuộc loại bợm cà phê uống vô biết liền. Họ tưởng tôi pha đường vào nên gọi ra mắng vốn. Thật oan ôi ông địa. Biết cãi cọ ra sao. Thứ cà phê phin sữa này, mấy anh tây bên đây rất khoái. Vô nhà hàng Việt Nam là phải cái nồi ngồi trên cái cốc. Nhà hàng tây làm chi có. Cà phê bên đây là Starbuck. Tiệm Starbuck nhan nhản khắp nơi khắp chốn.  Có tới 21.500 tiệm trên 64 quốc gia! Đi một quãng là gặp…chàng. Cứ thong dong vào order rồi kéo ghế. Vậy mà khi tôi tới Seattle, tới trước khu chợ ném cá Pike Market nổi tiếng đến nỗi ai ghé Seattle đều phải tới trình diện, không làm vậy là…quê, thấy một hàng người sắp hàng đợi vào tiệm cà phê Starbuck ngay xế bên kia chợ. Chi mà ngộ dzậy? Ngó ngang ngó dọc một hồi, tôi mới biết đây là tiệm Starbuck đầu tiên được khai trương vào ngày 30/3/1971. Chẳng biết uống cà phê của một anh chàng 46 tuổi có thấm hơn cà phê của những em Starbuck tuổi teen không, muốn biết thì xin sắp hàng. Chuyện đó không có tôi. Tôi còn bận nghía nhiều chỗ khác.


Xếp hàng vào mua cà phê tại tiệm Starbuck đầu tiên.

Có một chỗ tôi hồi hộp khi tới vì nó cười mũi vào câu “lấp biển vá trời” của các cụ xưa. Chuyện lấp biển là chuyện khó dàn trời, làm chi nổi. Vậy mà người ta đã làm một chuyện khó hơn: chui xuống đáy biển, đục một giao thông hào dài tới 37,6 cây số dưới lòng biển chạy từ Anh qua Pháp. Chiều sâu trung bình của đường hầm này là 50 thước dưới đáy biển. Khi từ phía bên Anh tới cửa đường hầm, tôi vẫn tưởng phía dưới như một xa lộ xe chạy hai chiều như những đường hầm khác. Nhưng khi vô hầm mới thấy mình bé cái lầm. Không phải là xa lộ xe chạy nhung nhăng tự do mà đường hầm gồm ba đường xe lửa chạy điện. Hai đường hai bên chạy ngược chiều nhau và một đường dự phòng ở giữa. Người ngợm xe cộ đều bị nhốt trong những toa xe lửa khổng lồ để chúng chở đi. Khi chiếc xe ca to tổ chảng chở chúng tôi xuống, tôi thấy dưới ánh đèn vàng vọt, một cánh cửa mở rộng như con quái vật há miệng chờ nuốt mồi. Xe từ từ lăn bánh chui vào xe lửa. Một thanh cửa ngang thụt ra chặn lại phía sau. Cả  chiếc xe lửa, chẳng biết dài tới bao nhiêu thước, lao vùn vụt trong hầm. Từ bên Anh qua Pháp hay ngược lại, mất 35 phút. Nếu chẳng may bị trục trặc kỹ thuật, chẳng biết con người ta đang chen chúc dưới đáy biển sẽ ra sao. Phỉ phui cái miệng ăn mắm ăn muối! Vậy mà đã xảy ra nhiều lần. Đường hầm lịch sử này được khởi công vào năm 1988 và khánh thành vào năm 1994. Chỉ hai năm sau, ngày 19 và 20/2/1996, đường hầm mất điện làm trên một ngàn hành khách kẹt phía dưới. Một lần khác xảy ra vào năm 2007. Nhưng nặng nhất là vào tháng 12 năm 2009, hai ngàn hành khách bị kẹt dưới hầm tới 16 tiếng, không điện, không đồ ăn thức uống! Khi tôi vượt hầm là cuối năm 2008, chưa xảy ra vụ kẹt lớn này, bụng cũng hơi đánh lô tô, nhưng chí khí còn cao nên cứ bình tĩnh mà run, trước sau chi cũng phải chui xuống chốn đen tối mịt mù!


Xe sắp lớp trong những toa tầu trong đường hầm dưới biển.

Khi tôi chui xuống tầng hầm của Bảo Tàng Viện British Museum ở Luân Đôn, tim tôi cũng đánh lô tô. Xác ướp Ai Cập, nghe đã nhiều nhưng chưa bao giờ diện kiến. Vậy mà tôi sắp tận mắt nhìn vào lớp lớp xác ướp dưới ánh đèn mờ mờ của tầng hầm, không hồi hộp sao được. Phần nhiều xác ướp còn được nằm kín trong những chiếc quan tài theo dáng người, có vẽ nhiều hoa văn. Có một vài xác được mở ra nhưng vẫn nằm trong quan tài. Những hình người cả ngàn năm không tan rã sau khi chết nối quá khứ với hiện tại. Nhìn chung quanh, những khách thăm viếng đều mang bộ mặt trang nghiêm, không một tiếng nói, không một tiếng ho, chăm chú quan sát. Cứ như đang đi dự một đám tang. Nằm trong quan tài là những bộ mặt nhăn nhúm, màu vàng ệnh như nghệ. Xác người ngàn năm cũng cổ thụ như những khúc gỗ vô tri. Đàn ông hay đàn bà, già hay trẻ, những thứ chúng ta săm soi khi còn sống hầu như vô nghĩa trong những thân xác bất động. Tôi đứng lặng trước những con người ngàn năm sống trước tôi.


Ngổn ngang xác ướp Ai Cập.

Có một cái xác không giống những xác ướp khác. Xác này trần trụi trong thế nằm sấp, tay chân cong queo, trông lạnh giá hơn những chiếc xác còn nằm trong quan tài gần đó. Khách thăm viếng tụ lại đông đảo quanh chiếc xác này. Đây là xác của một người đàn ông trưởng thành. Theo bảng chỉ dẫn bên cạnh thì các nhà khảo cổ cho đây là một trường hợp được an táng trong những huyệt mộ cạn, giao tiếp với cát. Chính sự khô ráo của cát đã giữ gìn xác chết. Có vài trường hợp cát đã giữ xác chết trong điều kiện tuyệt hảo. Theo tài liệu cho biết thì có hai xác trần trụi kiểu này được trưng bày trong viện bảo tàng British Museum. Một xác đàn ông và một xác đàn bà. Bữa đó, do thời gian có hạn và vì quá nhiều vật chứng để coi, tôi không thấy chiếc xác đàn bà đâu. Xác đàn ông được biết tới nhiều hơn vì toàn vẹn hơn và có bộ tóc màu nghệ.


Xác người đàn ông không quan tài.

Tôi đã có thời học môn Nhân Chủng Học, trong đó có kỹ thuật khảo cổ. Tôi rất ưa thích môn học này. Nhưng vì không học tới nơi tới chốn nên rất lơ mơ khi đứng trước cái xác nằm sấp này. Thường thì khi an táng một xác chết, người ta chôn thẳng thớm, tay chân duỗi ra thỏa mái. Thế chôn xác kiểu nằm sấp khác lạ này có vào thời nào? Có lẽ các nhà nhân chủng học đã có lời giải đáp nhưng tôi không biết.

Nhiều câu hỏi nảy ra trong đầu tôi khi đứng trước cái xác không giống những xác ướp khác này. Người từ tro bụi và sẽ trở về với bụi tro. Người đàn ông sống nhiều ngàn năm trước này có lẽ là một người bướng bỉnh. Ông không chịu về với bụi tro mà nằm tênh hênh cho người ta tới chiêm ngưỡng. Ông đợi chi mà không về? Chẳng lẽ ông nằm đợi gặp tôi!

09/2017