Alaska
Cần
Cắt
Chim
Đập

Gặp

Hồng
Karoshi
Khách
Kiếm
Leo
Marathon
Maritime
Mướn
Nghỉ
Ngựa
Nhẫn
Pháo
Răng
Sáng
Sến
Tàu
Tên
Thả
Ung
Xả
Xanh

PHỤ LỤC
NGHIÊM giữa bè bạn
HUỲNH CÔNG ÁNH, người vượt thoát
Phiếm & SONG THAO
Gặp lại vua "Phiếm"
"Thời Nay" và tuổi thơ của tôi

SẾN

Sến là một từ Việt Nam chay, vậy mà xuất xứ của nó có thể là…ngoại. Đầu thập niên 60 tại Sài Gòn có chiếu phim “Anh Em Nhà Karamazov”, The Brothers Karamazov, dựa theo cuốn truyện cùng tên của văn hào Nga Fyodor Dostoyevsky. Trong phim có cảnh một vũ nữ hộp đêm vừa múa vừa hát bài Mambo Italiano. Cô vũ nữ mặc hơi ít áo quần không che đủ thân hình bốc lửa. Khi nhảy mái tóc cô xõa ra rũ rượi. Giọng cô gào thét, rên rỉ và quằn quại rất khiêu khích và hấp dẫn. Cô đào thủ vai này là nữ tài tử Maria Schell. Cô chưa nổi tiếng nhưng với vai này cô diễn xuất thần tình để có tên ngang hàng với tài tử đầu trọc Yul Brynner trên quảng cáo. Phim rất ăn khách tại Sài Gòn, các rạp chiếu liên tục cả tháng vẫn chưa hết người coi. Dân Sài Gòn mê mệt với Maria Schell. Giới trẻ Sài Gòn bắt chước ngay lối nhảy của cô vũ nữ trong phim. Họ đi một cách nhún nhảy theo các giai điệu nhạc sướt mướt thịnh hành thời đó. Báo chí thời đó đã đăng nhiều bài phê phán sự học đòi lố lăng này và Việt hóa cái tên cô đào thành “Mari Sến”, rồi đọc gọn thành “Sến”. Sến ám chỉ những hình thức lòe loẹt, diêm dúa, bắt chước học đòi, sao chép một cách sáo rỗng thiếu thẩm mỹ.

Nghe như một giai thoại đẹp, lại có thêm yếu tố ngoại quốc nên khá hấp dẫn. Nhưng nhiều người không nghĩ vậy. Sến không phải là thứ nhập cảng mà là thứ hàng nội chính hiệu con nai vàng. Theo trường phái…quốc nội thì từ “sến” xuất hiện tại Sài Gòn ngay sau cuộc di cư 1954. Như vậy là từ này có mặt trước khi anh em nhà Karamazov tới Sài Gòn. Người Bắc gọi người tớ gái giúp việc trong nhà là “sen”. Từ “sen” di cư theo người Bắc vào Nam. Còn người Nam dùng từ “ở đợ”. Sen là những cô gái quê, nhà nghèo, ít học, phải bương trải ra Hà Nội kiếm sống bằng nghề giúp việc nhà. Ở Sài Gòn khi đó nước máy chưa được bắt vào từng nhà nên chiều chiều các cô sen phải tụ tập quanh máy nước để gánh nước về nhà. Máy nước công cộng ở Sài Gòn hồi đó có tên tây là fontaine. Vậy nên nảy thêm ra từ “Mari-Phông-Ten”.

Thuyết từ “sến” là biến thể của từ “sen” được Giáo sư Cao Xuân Hạo, một nhà ngôn ngữ học, ủng hộ. Ông giải thích: “Theo tôi, gốc của từ “sến” phải bắt đầu từ chữ “sen” trong nghĩa con sen, là đứa ở, con ở. Còn nếu ứng dụng vào văn chương, nghệ thuật thì ám chỉ khẩu vị thấp hèn, ít có giá trị”.

Vậy nên trong văn chương, nghệ thuật, cái chi có vẻ bình dân, dễ coi, dễ hiểu, được quần chúng lao động ít học khoái, đều là “sến”. Như trong hội họa Sài Gòn ngày đó có họa sĩ Lê Trung. Ông này rất nổi tiếng, chuyên trị vẽ hình bìa báo xuân cho các báo Sàigòn Mới, Tiếng Chuông, Phụ Nữ Diễn Đàn. Các báo này có lớp độc giả dễ dãi trong thưởng thức nghệ thuật nên cũng được ké từ “sến”. Họa sĩ Trịnh Cung phát biểu: “Trong tranh vẫn có “sến” chứ! Ví dụ như tranh của họa sĩ Lê Trung trước đây. Ông thường vẽ phụ nữ ngực tròn, mặc áo bà ba, đội khăn hoặc nón rất Sài Gòn. Nói chung là bình dân”.

Bình dân nên họa sĩ Lê Trung rất nổi tiếng trong giới lao động. Ngày tết, nhà nhà đều mua cho được tờ báo xuân có tranh Lê Trung. Sau tết, những tranh bìa báo này được cắt ra, dán lên vách nhà đề trang trí. Tranh của ông hầu như đều là chân dung phụ nữ. Ngó qua là nhận ngay ra tranh Lê Trung, không lẫn vào đâu được. Các phụ nữ trong tranh đều đẹp một cách khuôn thước: mặt hoa da phấn, phúc hậu, đầy đặn. Đó là những phụ  nữ miền Nam với cặp lông mày đậm, mắt đen nhánh mở lớn, mũi cao thanh tú và đôi môi đỏ mọng.

Ngày mới di cư vào Sài Gòn, gia đình tôi mua được một căn nhà vách gỗ, mái tôn, không có nhà cầu, ở Vĩnh Hội. Phía sau nhà cỏ mọc kín mít chạy dài ra tới bờ sông. Nằm chơi vơi bên bờ sông, sát với mé nước, có chiếc cầu ván bắc ra, là những nhà cầu công cộng nông choẹt chỉ che được phần dưới người đang hưởng cái thú thứ nhì sau quận công. Dân chúng trong xóm coi đây như một…hội trường. Họ ngồi nói chuyện oang oang như họp chợ. Đúng là chợ chồm hổm! Sống trong một xóm bình dân như vậy, hàng xóm của gia đình tôi đều là người Nam rặt. Bên phải là anh Ba chạy xích lô máy, sáng sớm đã đẩy xe đi mần. Anh ra đi khi trời vừa sáng, ai cũng biết vì tiếng máy nổ đinh tai nhức óc. Nhưng chẳng ai giận được anh khi gặp ai anh cũng cười khoe mấy chiếc răng vàng. Hàng xóm phía bên kia là chị Hai răng vàng chính hiệu. Răng vàng của chị đủ để chết với cái tên chị Hai Răng Vàng. Chị bán trái cây ngoài chợ Cầu Ông Lãnh. Chiều tối, thường chị về với sọt trái cây trên chiếc xe thồ của anh Hai, biếu mỗi nhà ít trái ăn lấy thảo. Trái cây của chị méo mó nhưng tình của chị rất tròn trịa. Vách nhà anh Ba hay chị Hai đều đầy tranh của Lê Trung. Tết mỗi năm mua vài ba tờ báo là đã có vài ba tấm tranh. Nhiều năm cộng lại, vách nhà toàn những khuôn mặt thiếu nữ như một đám chị em ruột thịt mở rộng mắt nhìn người trong nhà đi qua đi lại.

Tranh không phổ biến bằng nhạc. Vậy nên nhạc “sến” được bàn cãi rộng rãi hơn. Đó là những bản nhạc bình dân, được giới thưởng ngoạn bình dân thích. Ông bạn Bùi Bảo Trúc, nay đã bỏ cuộc chơi, có lần viết ở đâu đó là khi vào quân trường ông mới thấm cái hồn của thứ nhạc mà trước khi nếm mùi lính ông coi thường. Sau này, trong mục “Ngày Này Năm Xưa” trên đài Little Saigon, ông lại nhắc tới nhạc sến. Tôi không ở Little Saigon nên không được nghe đài này. Nhưng một độc giả trung thành của ông, bà Khổng Thị Thanh Hương, đã từng ghi note những bài nói của ông, sau khi ông mất, đã tiếc nuối nhắc lại những điều bà đã học hỏi được nơi ông. Về nhạc sến, bà ghi lại lời ông nói: “Ngày 2 tháng 5 năm 2006, ông giải thích về nhạc sến: nhạc sến, loại boléro, nhạc “máy nước”, “sến nương”. Marie Schell, tài tử người Áo, trở thành Mari Sến, nhạc sến. Ông nhắc đến sự lầm lẫn của cô Phạm Thị Hoài (có chồng người Đức) khi nói nhạc sến từ cô hàng “Xén” mà ra. Ông quả quyết nhạc sến cũng không phải từ “đánh nhạc bằng đàn sến (cổ nhạc). Ông còn thêm rằng sau này nhạc sến trở thành nhạc quê hương và khen Tuấn Vũ hát nhạc sến quá hay!”.

Vì ông Bùi Bảo Trúc nhắc tới tác giả Phạm Thị Hoài và sự lầm lẫn của tác giả này về gốc gác của từ “sến” nên tôi phải tìm tới cuốn tiểu thuyết “Marie Sến” của cô. Cũng dễ thôi vì nó nằm ngay trong tủ sách nhà tôi. Trong phần Phụ Lục của sách “Về Cái Tên Marie Sến”, Phạm Thị Hoài viết như sau: “Sến là tên người thì hiếm xuất hiện ở miền Bắc Việt Nam, mà thường thấy hơn ở miền Nam. Có người cho “sến” quan hệ với “sen” (trong “con sen”), và “xén” (trong “cô hàng xén”) đều chỉ cô gái bình dân hoặc hạ lưu. Chữ “xén” hẳn là liên quan với “vụn”, “cắt”, ít nhiều cho thấy những mặt “hàng xén”, hàng “đoạn”, nhưng chữ “sen” chỉ người hầu gái nguồn gốc thế nào thì không biết. Cả hai chữ này đều phổ biến ở miền Bắc, vì sao không kéo theo “sến” như ở miền Nam?...”Marie” hẳn là tên Pháp, có người cho là gợi một cô thôn nữ nhưng thích “tỉnh thành:, thích điệu. Còn Marie Sến, có người cho là âm Việt của Marie Schell, nữ minh tinh chuyên đóng  những vai nữ xuất thân bình dân trong những phim tình cảm mùi mẫn éo le. Phỏng đoán, ấn tượng, và liên tưởng do cái tên “Sến”, “Marie Sến” gây ra thật nhiều. Sự không chắc chắn về nguồn gốc, sự mơ hồ trong chi tiết, nhưng tương đối nhất quán trong ấn tượng về cái tên / khái niệm này là những kích thích quan trọng cho cuốn tiểu thuyết. Tôi đã tìm cách dựng lên một “Marie Sến”từ chỗ không biết chính xác gì về “Marie Sến”. Như vậy, cuốn tiểu thuyết này là một phỏng đoán nữa về một cái tên, một khái niệm. Nếu được bạn đọc vui lòng cung cấp thêm những phỏng đoán khác, tôi xin đa tạ”.

Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 chắc có thẩm quyền để nói về loại nhạc gọi là nhạc sến. Ông trả lời ký giả báo Tiền Phong: “Hồi xưa, mấy người giúp việc nhà, hay nhà nghèo đi ra phông-ten nước (vòi nước công cộng) để lấy nước về nhà xài, hay giặt đồ, người ta gọi cho nó “sang” là Mari Đờ La Phông-ten, giỡn chơi vui vậy. Đồng thời lúc đó nổi lên cô đào Maria Schell, dẫn đến họ có thêm biệt danh là Mari Sến. Mấy người đó, chủ nhật được chủ cho nghỉ, họ ở nhà mở radio nghe nhạc bolero, hoặc ra phố kiếm mấy chỗ bán nhạc đó để mua. Họ thích bolero vì nó hợp với trình độ của họ. Nhờ những người đó, nhạc sĩ bán bài hát mới chạy. Vô tình người ta gọi loại nhạc đó là nhạc sến. Không phải mình phân chia giai cấp, nhưng loại nhạc đó được giới bình dân nghe nhiều hơn. So với nhạc vàng, lời nhạc sến còn bình dân hơn: “Ước gì nhà mình chung vách, anh khoét bức tường, anh qua thăm em”. Chung quy cũng là nhạc trữ tình. Nhạc cho người có hiểu biết chút xíu gọi là nhạc vàng, còn cho người ít hiểu biết gọi là nhạc sến. Tôi nghĩ nhạc vàng có giá trị của nó, nhạc sến cũng có giá trị của nó. Phải có những giá trị nhỏ thì người ta mới biết giá trị lớn chứ. Không nên đánh giá cái nào thấp quá hoặc cao quá”.

Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 cũng nêu ra một chuyện ít người nghĩ tới. Đó là phần đông nhạc sĩ và ca sĩ của loại nhạc được gọi là nhạc sến là người miền Nam nên viết và hát mang chất dân ca bình dân của người miền Nam. Đúng ra có nhiều câu mang âm hưởng dân ca Nam Bộ. Họ viết nhạc phần đông ở giọng thứ, khi hát với bolero, nó đúng cái nhịp của người miền Nam. Dân ca miền Nam rất hợp với bolero. Bên tân cổ giao duyên phần đông hát vọng cổ xong qua bolero liền. Hai cái đó dính liền, pha với nhau. Bolero của Việt Nam chậm hơn bolero của Tây Ban Nha hay Nam Mỹ.

Chúng ta có thể lấy một ví dụ cụ thể: bài thơ “Mầu Tím Hoa Sim” của nhà thơ Hữu Loan. Bài thơ này được nhiều người phổ thành nhạc. Hai bài được biết tới nhiều nhất là “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh (người miền Nam) và “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” của Phạm Duy (người miền Bắc). Bản phổ nhạc của Phạm Duy, với âm điệu lên xuống, luyến láy, rất khó hát, và hình như chỉ có những giọng ca điêu luyện như Sĩ Phú, Vũ Khanh, Duy Quang, Duy Trác, Elvis Phương mới trình bày thành công, còn bản phổ nhạc của Dzũng Chinh hình như ca sĩ nào cũng hát được, từ Chế Linh, Phương Dung, Tuấn Vũ cho đến Thanh Tuyền, Như Quỳnh, Trường Vũ. Hai bản phổ nhạc khác hẳn nhau, một bản kể lể lê thê, một bản chuyển đổi âm điệu khi thiết tha, khi hùng tráng. Từ đó phân biệt ra nhạc sến và nhạc…sang. Hàng xóm của tôi ngày đó, khi mới có bản “Những Đồi Hoa Sim” thì ngày đêm, từ nhà này qua nhà khác, cứ phải leo đồi bắt mệt. Khi có bản “Hàn Mặc Tử” thì không lúc nào ngưng nghỉ tiếng rao bán trăng mà chẳng có ai mua!

Cùng một bài thơ rất…sang mà biến hình thành hai bản nhạc, một sang một sến. Vậy thì sến do nhạc hay do lời? Có lẽ câu trả lời đúng nhất là cả hai. Bài thơ “Mầu Tím Hoa Sim” của Hữu Loan mở đầu bằng những câu:

Nàng có ba người anh
Đi bộ đội 
Những em nàng còn chưa biết nói 
Khi tóc nàng xanh xanh.
Tôi là người chiến binh
Xa gia đình 
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giầy đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi!

Vào nhạc Phạm Duy, bản nhạc bắt đầu: “Nàng có ba người anh đi quân đội lâu rồi / Nàng có đôi người em có em chưa biết nói / Tóc nàng hãy còn xanh / Tóc nàng hãy còn xanh / Tôi là người chiến binh xa gia đình đi chiến đấu / Tôi yêu nàng như yêu người con gái tôi yêu”. Nhạc giữ được hơi thơ, chỉ thêm thắt ít chữ cho hợp với nhạc.

Bản “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh bắt đầu như sau: “Những đồi hoa sim ôi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt / Vào chuyện ngày xưa nàng yêu hoa sim tím khi còn tóc búi vai! / Mấy lúc xông pha ngoài trận tuyến / Ai hẹn được ngày về / Rồi một chiều mây bay từ nơi chiến trường đông bắc đó / Lần ghé về thăm xóm hoàng hôn tắt sau đồi”. Hơi thơ của Hữu Loan mất tiêu, Dzũng Chinh ngồi kể chuyện những đồi hoa sim cho thính giả nghe. Đó là một đặc tính của loại nhạc được gọi là sến: chuyện kể! Lối kể chuyện đi với chất nhạc lê thê của điệu bolero made in Vietnam, âm giai chủ Re thứ,đã bình dân hóa thơ của Hữu Loan. Bản nhạc hợp với cảm quan và khiếu thưởng thức của giới bình dân nên được phổ biến rộng rãi. Sau ngày miền Nam bị cưỡng chiếm, nhà thơ Hữu Loan vào chơi Sài Gòn. Trong một lần dạo phố, ông nghe thấy bản nhạc phổ thơ của ông được một người cụt chân, quần áo rách rưới, ngồi hát dạo kiếm tiền độ nhật. Ôm cây đàn guitar cũ rích, ông vừa đàn vừa hát: Những đồi hoa sim ôi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt. Hữu Loan ngồi xuống bên người nghệ sĩ đường phố. Nghe hết bản nhạc, Hữu Loan yêu cầu hát lại. Nghe xong, Hữu Loan đứng dậy, cặp mắt lờ đờ ngấn lệ. Ông móc hết tiền trong túi ra tặng cho người nghệ sĩ và nói: “Anh hát hay quá, tôi là tác giả bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” đây!”. Nói xong, ông lặng lẽ bước đi trước sự ngơ ngác của mọi người.

Chuyện nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc bài thơ này đã được chính Phạm Duy kể lại: “Tôi với anh Hữu Loan quen nhau năm 1948 ở Cầu Bố, Thanh Hóa, lúc đó chúng tôi làm việc dưới quyền tướng Nguyễn Sơn. Một lần nghe anh ấy đọc bài thơ “Màu Tím Hoa Sim”, tôi thích lắm, tôi muốn phổ nhạc ngay. Nhưng đến khi phổ nhạc xong, vì một vài lý do tôi không phổ biến bài hát. Sau này tôi vào Sài Gòn sinh sống, và tới năm 1971 mới chính thức tung ra bài hát. Khi đó tôi đổi tên bài hát thành “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà”. Nhờ hai giọng ca Thái Thanh và Duy Quang, thiên hạ biết nhiều đến bài này, họ thích lắm. Bài hát thành công ngay từ thời đó và cho đến bây giờ tôi vẫn thấy người ta hát hoài. Bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” cũng có hai người khác phổ nhạc, Dzũng Chinh với tên “Những Đồi Hoa Sim” và Anh Bằng thì lấy tên là “Chuyện Hoa Sim”. Nếu tôi để nguyên tên có thể người ta sẽ nhầm lẫn. Vả lại “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” là câu chính trong bài thơ của anh ấy, tôi có mạo muội thêm bớt đâu nào! - “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” đã làm toát lên sự hào hùng và bi thương, cái tinh thần chính của “Màu Tím Hoa Sim””.

Hai bản phổ nhạc đều rất phổ biến. Bản vừa tai giới này, bản vừa tai giới khác. Bản của Phạm Duy hầu như chỉ sống trong những căn nhà kín cổng cao tường. Bản được coi là sến của Dzũng Chinh sống oang oang ngoài đường phố. Vậy nên tôi mới phải leo đồi phát mệt.

Có những buổi sáng mùa đông ở Montreal, trời đất xám xịt, ly trà đậm trên tay, tôi đứng nhìn ra ngoài cửa sổ. Hình như trong đầu tôi vang vang lên những đồi hoa sim ôi những đồi hoa sim từ các căn nhà hàng xóm của tôi ở Sài Gòn. Tôi lặng người. Hơi nhạc hình như thấm vào tôi, đưa tôi trở lại những ngày cũ. Trong tôi vẫn có chỗ cho nhạc sến.

04/2017