Cuối tháng 6 là mùa nghỉ hè, thấy bộ mặt hớn hở của những em học sinh, tôi bỗng nhớ lại những ngày ấu thơ xưa. Đời học sinh chẳng có chi khoái hơn là nghỉ hè. Nghe mang mang một nỗi vui, thênh thang một thời gian không sách vở. Bài thơ cho tới nay tôi vẫn nhớ từng chữ là bài “Nghỉ Hè” của Xuân Tâm. Nghe rộn ràng cả một thời ngây ngô khi sung sướng thoát khỏi trường lớp.
Sung sướng quá, giờ cuối cùng đã hết
Đoàn trai non hớn hở rủ nhau về
Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê
Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ!
Một nét mặt trăm tiếng cười rộn rã
Lời trên môi chen chúc nối nghìn câu
Bài thơ như một cung đàn rộn rã này tôi được học thời tiểu học nhưng mỗi kỳ hè sau đó, thời trung học, vẫn thấm. Cho tới khi lên Đại học thì hết ép-phê nhưng nhớ vẫn cứ nhớ.
Con em chúng ta ngày nay không có quê để về. Những ngày hè vẫn quanh quẩn nơi phố thị. Đó là nói về những học sinh nhỏ. Khi đủ 16 tuổi, hè của các em là thời gian đi làm hè. Các em túa ra đi xin việc. Thường là những việc loàng xoàng trong các tiệm ăn, cửa hàng, các nơi vui chơi hoặc xa hơn là trang trại ruộng đồng. Con gái lớn của tôi đã bước vào vòng cương tỏa bằng công việc đứng đón khách vào chơi trong công viên La Ronde ở Montreal. Lương tối thiểu, làm từ trưa tới khi công viên đóng cửa. Đứng giang nắng cả ngày, người đen đúa, tối về khuya bố mẹ phải tới đón. Cha mẹ nào chẳng xót ruột. Một ông bạn tôi có con chạy bàn cho một tiệm ăn. Buổi tối, ông đứng ngoài cửa kính nhìn vào, thấy con vất vả bị sai bảo quay cuồng, đã rơm rớm nước mắt nói với tôi: “Moa thấy bất nhẫn quá!”.
Qua định cư nơi xứ người, chúng ta vẫn khư khư giữ những suy nghĩ cũ nên khi thấy con cái đi làm hè là rớt nước mắt. Thực ra chẳng cứ con dân tỵ nạn chúng ta, mấy tên tây con cũng đi làm hè vất vả. Bên đây, cha mẹ khuyến khích con đi làm chẳng phải vì cần tiền. Có những con triệu phú cũng vẫn đi làm hè. Đi làm là để biết giá trị của đồng tiền vất vả kiếm được, đồng thời biết sống tự lập, không nhờ vả dù là nhờ bố mẹ.
Ngày xưa chúng tôi cũng đi kiếm việc làm hè nhưng việc làm hè của chúng tôi không vất vả như thế hệ con cháu chúng ta bây giờ. Làm hè ngày đó hầu như chỉ quy vào một việc: kèm trẻ. Nghề gia sư ngày đó là nghề của sinh viên. Nghề của các…cô cậu! Ngày nay con cháu chúng ta đâu có kiếm được cái job thơm như múi mít này. Cũng có nhưng rất hiếm. Trong một bản tin vào năm 2009, đài VOA đã kể lại trường hợp của em Kevin Tiến Khoa Nguyễn. Mùa hè năm em được 17 tuổi, em vừa hoàn tất lớp 11 tại trường trung học Thomas Jefferson, một trường nổi tiếng dành cho các học sinh ưu tú tại tiểu bang Virginia. Mùa hè năm đó em kiếm được cái job kèm cho ba em học sinh muốn thi vào ngôi trường nổi tiếng này. Bài báo viết: “Khoa được trả từ 15 đến 25 đô-la một giờ dạy kèm, tùy trường hợp. Khoa kèm cho các em bằng hai lối: trực tiếp đến tận nhà học sinh, lãnh 25 đô-la một giờ. Hoặc là dạy qua e-mail được trả 15 đô-la một giờ. Khoa cho biết cách em dạy kèm qua e-mail: “Con cho bài rồi học viên làm bài, khi nào có thắc mắc gì thì con giải thích bằng e-mail”. Làm sao mà Khoa tìm ra được việc dạy kèm? Em đăng quảng cáo trên website của Craiglist trong tư cách là một học sinh gần học xong trung học tại trường Thomas Jefferson. Thế là chỉ một tuần sau, nhiều người e-mail tới nhờ em dạy kèm cho con họ, và từ đó người nọ mách người kia nên dịp hè này Khoa cũng kiếm được khá tiền để dành khi vào Đại học”.
Ngày nay có rất nhiều du học sinh từ trong nước qua các nước tiên tiến như Mỹ, Canada, Pháp, Anh, Úc, Nhật Bản hoặc Tân Tây Lan theo học. Nhập gia tùy tục, họ cũng kiếm việc làm hè. Trong thời gian hai tuần lễ có mặt tại Nhật Bản năm ngoái, tôi đã gặp rất nhiều du học sinh từ Việt Nam qua. Có thể nói ra đường là đụng du sinh. Tại các công viên, trên xe lửa, tại các cửa hàng, quán ăn, tôi đã từng chuyện trò thăm hỏi các em. Phần lớn các em không đủ tiền sinh sống nên phải kiếm việc làm thêm ngoài giờ học. Hè là thời gian thuận tiện để làm nhiều. Chỉ vài bước từ khách sạn tôi ở, tôi đã gặp một em làm trong tiệm bán hàng lặt vặt và một em làm trong quán nhậu. Tôi không biết Nhật Bản có quy định hạn chế giờ làm của các du học sinh không nhưng tại Tân Tây Lan thì có.
Ngày 25/5/2017 vừa qua, tại Tân Tây Lan, đã có một buổi tọa đàm về việc du sinh từ Việt Nam làm thêm trong dịp hè. Theo chính sách của chính phủ về việc làm thêm của các sinh viên quốc tế, mỗi sinh viên chỉ được đi làm tối đa 20 tiếng mỗi tuần trong năm học, nhưng khi nghỉ hè thì được làm toàn thời gian. Đi làm tưởng chỉ để kiếm tiền nhưng không phải như vậy. Các du sinh Việt Nam đã học hỏi được nhiều điều thực tế trong công việc làm thêm. Chị Trịnh Thị Hằng, sinh viên Đại học Victoria Wellington, đã làm việc trong một tiệm bán bánh mì trong thời gian hai năm khi du học chương trình thạc sĩ. “Khi đó tôi nghĩ công việc này rất đơn giản. Tôi làm cho tiệm bánh của người Việt, tôi giỏi tiếngViệt và tiếng Anh, những gì tôi cần làm là chỉ hỏi khách muốn ăn loại bánh nào và lấy đưa cho họ”. Công việc thật đơn giản, ai cũng làm được, có chi mà học hỏi. Nhưng du sinh Trịnh Thị Hằng đã nghĩ nhầm. “Quản lý của tiệm bánh đã đập tan mọi ý nghĩ đơn giản ban đầu của tôi về công việc này. Chị ấy dạy tôi làm thế nào để phục vụ nhiều khách nhất để không ai phải xếp hàng mà vẫn không mua được đồ ăn cho bữa trưa. Chẳng hạn như khi thấy khách quen, tôi phải biết ngay được người khách này thường ăn loại bánh nào để chuẩn bị trước. Điều này giúp việc phục vụ nhanh hơn và chuyên nghiệp hơn”.
Bài học du sinh Hằng học được qua công việc giản dị là khi làm bất cứ công việc gì cũng phải làm với cái tâm. Từ đó mới nảy ra được những suy nghĩ để cải tiến, thay đổi cách làm khiến công việc được hoàn hảo hơn. Đi làm thêm không phải chỉ để kiếm thêm tiền mà điều quan trọng là tăng vốn sống và có những kinh nghiệm mới, chị Hằng kết luận như vậy.
Chị Nguyễn Thị Phương Anh, cũng du học tại Tân Tây Lan. Trong bốn năm dùi mài kinh sử tại quốc gia hiền hòa, hàng xóm của nước Úc này, chị đã trải qua năm công việc làm thêm trong các cửa hàng cà phê hay tiệm bánh. Cái mà chị nhận được là…tiền, dĩ nhiên! Nhưng chị còn nhận được nhiều lợi ích khác làm phong phú thêm cho cuộc sống. “Họ tự do phát triển, thể hiện năng lực, độc lập nhưng theo một tinh thần nào đó”. Cái tinh thần chị đã nhận ra trong những lần đi làm thêm từ 6 giờ sáng. “Khi ấy, xe buýt chưa hoạt động, tôi phải đi bộ từ nhà tới chỗ làm. Tôi ngạc nhiên khi bất cứ xe hơi nào chạy ngang qua cũng dừng lại và người chủ mở kính xe hỏi tôi có muốn đi nhờ không”. Sự thân thiện và lòng hảo tâm của những người xa lạ đã thay đổi suy nghĩ của một cô gái tới từ một nơi mà người ta đối đãi với nhau khác xa. Từ một người hay e ngại, Phương Anh đã trở thành một người cởi mở và nhiệt thành hơn.
Hè tới, mùa hè của “trời hồng hồng, sáng trong trong” của nhạc sĩ Hùng Lân, các học sinh Canada cũng xông xáo vào các nơi có việc làm cho họ. Với nhiều em, đó là công việc đầu đời. Cái thuở ban đầu nào cũng có những lọng cọng tức cười. Nhật báo The Gazette ở Montreal vừa có một bài đặc biệt để các ký giả, phóng viên của tòa báo nhớ lại cái thuở ban đầu khi họ giã từ thơ ngây bước vào đời.
Phóng viên tập sự Safia Ahmad, 24 tuổi, nhớ lại thời 15 tuổi. “Tôi kiếm được công việc hè đầu tiên vào năm 15 tuổi. Trong khi các bạn học mải mê vui chơi, tôi mải mê chứng tỏ mình tự lập và trở thành người lớn. Tháng 7 năm 2008, tôi bắt đầu làm việc tại Cineplex Forum, lúc đó tên là AMC Theater. Tôi vừa xúc động vừa bối rối. Phần lớn các nhân viên đều đã trên 18 tuổi và làm việc nhiều năm trước. Chúng tôi mặc đồng phục: áo đỏ, quần đen và chiếc mũ đen trông rất ngon lành. Công việc không khó nhưng khi mình không tự tin và khởi đầu làm việc thì ngay những việc giản dị như xé vé và chỉ dẫn chỗ ngồi cho khách cũng khiến mình bối rối. Nhưng rang bắp nơi quầy bán tạp hóa, chuyện tôi lọng cọng làm lần đầu, mới thực sự làm tôi muốn tránh chỗ này nhất. Mỗi lần nhận được lịch trình công tác, tôi luôn cầu nguyện để được phân công làm ở đâu cũng được, trừ chỗ này!”.
Biên tập viên Louise Solomita kiếm việc để…chơi. Nàng muốn đi Âu châu một chuyến kiểu tây ba lô nên kiếm việc làm hè. Kiếm hoài mới ra một việc mà ai cũng ghét: đòi nợ! Được cái may là chỉ đòi nợ bằng cách gọi phôn nên an toàn trên xa lộ. “Tôi tự hỏi trước khi bắt đầu công việc: không biết sẽ tệ đến đâu đây! Tôi được trả 10 đô một giờ và toan tính chỉ làm ít tuần lễ. Tôi học ban văn khoa nên rất ghét đôi co. Vài ngày đầu thật tệ. Đeo cái headphone cấn cái, tôi lắp bắp nói sai tên, bị chế giễu, mắng chửi, đe dọa và bị cúp phôn. Tệ hơn nữa là tôi quá hiền với đối thủ nên không đạt chỉ tiêu mỗi ngày. Họ có những vấn đề lớn hơn vụ nợ nần khiến tôi cảm thấy họ giận dữ với tôi là đúng (Tôi còn một đàn con phải nuôi, cô có biết không?). Nhưng chỉ vài tuần sau, phép lạ đã xảy ra: tôi nắm thế thượng phong. Giọng tôi át giọng những con nợ, tôi đe dọa và áp đảo (Bộ ông muốn tôi phải gọi ông hoài hoài sao? Không! Ông hãy nghe tôi nói!). Có lần mặt tôi đỏ bừng bừng, thở không ra hơi, boss của tôi phải vỗ về bằng cách mua bánh cho tôi ăn. Khi rời công việc, tôi cảm thấy rảnh nợ. Cái tôi dữ dằn không phải là thứ tôi thích, Tôi học được một điều: dù bề ngoài tôi là một người điềm đạm và dễ mến, vậy mà vẫn còn một cái tôi đáng ghét núp trong con người tôi. Chỉ cần một chút khiêu khích là nó nhảy chồm ra ngay!”.
Phóng viên tập sự Claire Loewen kiếm được một chỗ làm hè không kém thử thách. “Mùa hè năm tôi 18 tuổi, tôi làm tại một depanneur ở khu Plateau-Mont-Royal. Tôi sống qua ngày bằng cách nói chuyện với thân chủ và phôn tán chuyện với bạn bè khi rảnh rỗi. Dĩ nhiên có khách vào là tôi phải cúp phôn ngay. Có một người khách luôn say sưa tên Eric. Ngày nào anh ta cũng tới nhiều lần để trả ba lon bia rỗng lấy 15 xu. Có một lần anh ta đánh rớt một lon trên sàn nhà và chút bia dư làm dơ sàn. Tôi hét toáng lên mắng anh ta. Một năm sau, khi tôi đã thôi làm, bạn tôi gửi cho tôi một tin nhắn tìm người trên mạng Kijiji. Bản tin nhắn viết: “Claire – Concordia –Nhà báo. Cô đã có lần làm tại một depanneur gần nhà tôi. Tôi vẫn chờ mong cô nhưng cô chẳng bao giờ trở lại. Hy vọng cô có một đời sống tốt đẹp. Tôi mong được gặp lại cô”. Chúa ơi! Đúng là tôi! Nhưng tôi chưa xác định được ai viết những giòng này. Công việc đã dạy tôi nhiều điều. Chẳng hạn như việc bán vé số được vận hành ra sao, làm sao làm bản cân bằng chi thu, cách kiểm kê như thế nào và làm sao đối đầu với những người say xỉn. Nhưng điều lớn lao nhất mà tôi học được từ công việc ở tiệm là nếu bỏ qua những dị biệt thì những ràng buộc trong cuộc sống sẽ dễ chịu hơn nhiều. Mỗi người chúng ta gặp đều có thể dạy cho chúng ta về con người chúng ta và giúp chúng ta khôn lớn. Có khi mối tương giao tốt đẹp nhất lại phát sinh từ những cơ hội chúng ta tình cờ gặp trong xã hội”.
Đi làm hè không chỉ giúp các người trẻ còn mài đũng quần trên ghế nhà trường có thêm chút tiền tiêu xài mà còn giúp các em tự lập và biết giá trị của lao động. Qua các kinh nghiệm được kể lại, người ta thấy việc làm hè đã giúp cho các em định hình được con người của các em trong xã hội. Đó có lẽ là cái “được” quan trọng nhất. Chuyện của ông Patrick Doyle có lẽ là một chuyện lý thú minh giải cho lợi ích của việc làm hè. Ông kiếm được job dọn bàn tại phòng ăn của khách sạn Timberline Lodge ở Oregan. Đồng lương ông lãnh là những đồng tiền đầu tiên ông kiếm được trong đời. Nhưng điều mà ông không ngờ đã thu thập được trong công việc đầu đời này là những bài học kinh nghiệm quý giá giúp ông thăng tiến sau này. Đó là những đức tính: đúng giờ, luôn ăn mặc chỉnh tề, đối xử đàng hoàng với khách hàng. “Tôi đã trưởng thành trong mùa hè năm đó!”. Ông nhìn nhận như vậy khi đang giữ chức Tổng Giám Đốc Điều Hành công ty pizza Domino’s.
Truyền thống được tôi luyện trong các công việc làm hè đã đưa ông Patrick Doyle lên địa vị ngày nay hình như đang gặp trở ngại. Năm 2017 này, các thanh thiếu niên ở Mỹ ít đi làm hè hơn trước. Theo thống kê thì mùa hè năm 1986 có khoảng 57% thiếu niên tuổi từ 16 tới 19 đi làm hè. Nhưng tới năm 2016, tỉ lệ này xuống chỉ còn 36%. Tại sao vậy? Người ta nói tới nhiều nguyên nhân. Có thể là muốn vào đại học ngày nay phải cạnh tranh nhiều nên các em dùng thời gian hè để học thêm hay làm thiện nguyện để có lợi thế khi nạp đơn nhập đại học. Thống kê cho thấy mùa hè năm 1986 chỉ có 12% các em đi học hè. Ba mươi năm sau, năm 2016, con số này tăng lên tới 42%. Cũng có thể ngày nay những người lớn tuổi không chịu về hưu vỉ kinh tế khó khăn nên công việc hè cho các học sinh, sinh viên giảm đi.
Đi làm hè có cái hay, đi học hè cũng có cái hay. Sự thay đổi, theo tôi, có lẽ là vì xã hội đã thay đổi. Cuộc cạnh tranh trong thế giới loài người đã bẻ vòng những nếp cũ để thích ứng với cuộc sống trong một xã hội đã không còn như xưa. Con em tỵ nạn và du học của chúng ta đã nhập gia tùy tục thì các em thiếu niên bản xứ ngày nay cũng…tùy cơ. “Tùy tục” hay “tùy cơ”, cả hai đều là những khôn ngoan của phận người trong xã hội.
07/2017 |